Được biết
AgriBank sắp trình lên Chính phủ Đề án Bảo hiểm nông nghiệp do ABIC xây dựng.
Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất có tần suất rủi ro cao gấp nhiều lần các ngành
nghề khác, hẳn ABIC đã tính toán nhiều về vấn đề này?
Hiện nay có
thể nói bảo hiểm nông nghiệp ở VN vẫn là con số không, trước đây từng có một số
DN từng triển khai thử nhưng đều thất bại. AgiBanhk vẫn quyết tâm phát triển
lĩnh vực này, vì vậy phải đúc đúc rút kinh nghiệm của những “anh cả” đi trước,
những thất bại của họ do nhiều nguyên nhân. Một, họ không có thị trường truyền
thống trong lĩnh vực nông nghiệp để đủ số đông người tham gia bảo hiểm. Hai,
sản phẩm của họ chỉ triển khai theo loại hình bảo hiểm truyền thống mang tính
đơn lẻ. Nếu tính trên từng loại hình rủi ro đơn lẻ, thì với nông dân sẽ có vô
vàn yếu tố rủi ro tác động, nên phí bảo hiểm sẽ rất cao, nông dân không thể chịu
đựng được.
Cả nước có
13 triệu hộ nông dân, trong đó: 10 triệu hộ là khách hàng của AgriBank; 2 triệu
hộ thuộc diện cận nghèo là đối tượng khác hàng của Ngân hàng chính sách; 1
triệu hộ còn là khách hàng của khoảng 100 tổ chức tài chính và các ngân hàng khác. Theo quy định, mỗi hộ nông dân có thể được vay
tối đa 30 triệu đồng bằng tín chấp, không có thế chấp tài sản. Khi những nông
dân này gặp rủi ro, thì AgriBank (mà đây cũng chính là vốn của Nhà nước) sẽ mất
khoản tiền cho vay đó, không thể thu hồi được. Tính trong vòng 20 năm qua, có
khoảng 1,8-1,9% số hộ nông dân vay vốn đã không có khả năng trả được nợ vay. Bởi
vậy từ trước tới nay, AgriBank phải đưa khoản này vào chi phí trích lập dự
phòng những khoản nợ xấu, trích 1,8-1,9%, đánh vào lãi vay của nông dân. Chính
vì thị trường rộng lớn, và nhiều rủi ro như vậy, nên AgriBank thành lập ABIC để
bảo tồn nguồn vốn đó trước các thảm họa như thiên tai, dịch bệnh trong
nông nghiệp để tiến tới thay thế cho việc phải trích phí quá cao từ nông dân
vay vốn. Chúng tôi đang xây dựng mức phí bảo hiểm bằng khoảng 50-60% mức tiền
phải trích lập dự phòng nợ xấu trên. Vấn đề bảo hiểm nông nghiệp đã được chúng
tôi thai nghén suốt từ khi viết dự án thành lập công ty ABIC, được Bộ Tài Chính
và Thủ tướng Chính phủ rất ủng hộ.
Với mức
độ rủi ro cao như vậy, tỷ lệ phải chi trả bảo hiểm trong nông nghiệp sẽ rất lớn. Làm thế
nào để tránh được nguy cơ vỡ
quỹ bảo hiểm, thưa ông?
Hàng năm,
thiên tai và dịch bệnh “cướp đi” của VN 1,5% GDP, vì vậy không thể có doanh
nghiệp ở nước ta dám liều lĩnh với rủi ro lên tới 10 tỷ USD
như vậy, ngay cả AgriBank cũng không đủ khả năng chi trả. Vì vậy, chúng tôi
phải chuyển rủi ro nông nghiệp ra nước ngoài. Chúng tôi đã lựa chọn đối tác là
Swiss Reinsurance- đây là Tập đoàn tái bảo hiểm của Thụy sĩ, có tổng nguồn vốn
cao gấp 30 lần nguồn vốn của AgriBank. Tập đoàn này đã cử chuyên gia cùng phối
hợp với ABIC để xây dựng các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. ABIC sẽ triển khai
bảo hiểm đến nông dân, rồi bán những đơn bảo hiểm nguyên bản đó cho
Swiss. Như vậy, Swiss sẽ ôm trọn gói bảo hiểm cho
nông nghiệp của VN, còn ABIC thực chất chỉ là đơn vị làm đại lý bảo hiểm cho
họ. Hiện có 160 quốc gia là khách hàng của Swiss, tức là 160 nước cùng gánh
chịu và chia sẻ rủi ro. Như vậy, thảm họa thiên tai dịch bệnh dù lớn đến đâu
thì cũng nằm trong tầm khả năng bảo hiểm, nguy cơ vỡ quỹ sẽ không còn là vấn đề đáng lo lắng nữa. Tuy nhiên, mình bán rủi
ro cho nước ngoài, bên mua cũng phải xem là có lợi cho họ thì họ mới mua chứ.
Để tạo ra
số lượng người mua bảo hiểm lớn, AgriBank sẽ đề ra cơ chế, bất cứ nông dân nào
muốn vay tín chấp thì phải mua bảo hiểm. Trước đây, những hộ nào sản xuất ít
rủi ro thì AgriBank mới cho vay vốn, và đòi hỏi họ phải lập dự án sản xuất kinh
doanh rất khắt khe. Nhưng khi áp dụng cơ chế này, bất cứ nông dân nào cũng được
vay vốn dễ dàng, vì nếu họ gặp rủi ro trong sản xuất thì đã có bảo hiểm gánh
chịu.
Rủi ro
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở VN rất cao. Nếu tính đủ phí, thì nông dân
không thể nào cáng đáng được. Hàng năm nhà nước đều có chính sách cứu trợ thiên
tai thảm họa, đây là hình thức phải chi tiền một cách bị động mỗi khi thiên tai
xảy ra. Vậy thì, tại sao nhà nước không hỗ trợ nông dân khoản phí bảo hiểm (nhà
nước hỗ trợ khoảng 60-80% phí bảo hiểm, nông dân đóng 20-30%)? Như vậy, nếu
thiên tai dịch bệnh xảy ra gây thiệt hại, nhà nước không cần phải hỗ trợ nữa,
mà các Cty bảo hiểm sẽ có trách nhiệm chi trả các khoản thiệt hại này.
Xin ông
cho biết, bảo hiểm nông nghiệp sẽ có những sản phẩm nào mang tính khả thi cao?
Trên thế giới hiện có 3
dòng sản phẩm bảo hiểm trong nông nghiệp. Một là dòng truyền thống, tính trên
giá trị thu hoạch của từng cây trồng vật nuôi, thiệt hại bao nhiêu thì Cty bảo
hiểm sẽ trả cho nông dân bấy nhiêu. Thứ hai là dòng bảo hiểm theo chỉ số thời
tiết. Các cố vấn cấp cao của Chính phủ đã tư vấn chúng tôi nên thực hiện bảo
hiểm theo chỉ số lũ lụt đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long. Năm nào vùng này
cũng có lũ với mức độ cao dưới 1m, canh tác là cây lúa chịu nước, nước lên đến
đâu thì lúa cao đến đấy. Nhưng tần suất 7 năm/lần sẽ có lũ cao trên 1m, 20
năm/lần có lũ cao trên 2m. Nếu lũ cao trên 1m, thì cây lúa sẽ mất mùa. Vì vậy
khi lũ lên cao 1- 2 m thì sẽ bảo hiểm toàn bộ, trả cho nông dân số tiền bằng
giá trị sản lượng lúa thu hoạch hàng năm. Ở Tây nguyên trồng nhiều cà phê, cao
su… Khi lượng nước tưới bị thiếu, thậm chí hạn đến mức không có nước tưới, dễ
có nguy cơ mất trắng vụ thu hoạch. Chúng tôi cũng đang nghiên cứu đưa sản phẩm
bảo hiểm theo chỉ số khô hạn vào triển khai.
Dòng sản
phẩm thứ ba là bảo hiểm theo chỉ số sản lượng. Chẳng hạn một giống lúa thường
cho năng suất 7 tấn/ha. Khi bất kỳ một thiên tai, dịch bệnh, bão lũ, khô hạn,
cháy… nào đó tác động vùng trồng giống lúa này khiến sụt giảm sản lượng thu
hoạch, thì phần chênh lệch giữa sản lượng lúa lý thuyết và thu hoạch thực tế sẽ
được bồi thường. Với loại sản phẩm này, thường phải quy từng đơn vị diện tích
rộng bằng cả một huyện là một đơn vị rủi ro. Nếu tổn thất chỉ 1 đám, một mẫu
hoặc từng hộ thì sẽ không được trả bảo hiểm. Nếu trong huyện nào đó có bất cứ
nguyên nhân nào gây sụt giảm sản lượng thu hoạch, thì Cty sẽ trả bảo hiểm cho
toàn bộ nông dân tham gia bảo hiểm trong huyện đó, không cần biết là từng nhà
có bị thiệt hại hay không. Điểm xuất phát của ABIC sẽ là dòng sản phẩm thứ 3 này,
tức là bảo hiểm cây lúa theo chỉ số sản lượng, chúng tôi sẽ bắt tay triển khai
ngay từ vụ đông xuân năm nay. Nếu thành công đối với cây lúa, ABIC sẽ triển
khai tới một chuỗi sản phẩm: hạt tiêu, điều, ca cao, cà phê, chè, sắn, tôm, cá
tra. Bất kỳ cây, con nào mang tính chất sản xuất hàng hóa thì đều có thể trở
thành đối tượng bảo hiểm.
Khi xảy
ra rủi ro, cơ quan nào đứng ra giám định thiệt hại cho nông dân thưa ông, chẳng lẽ Cty bảo hiểm tự giám định thì làm
sao đảm bảo tính minh bạch?
Loại sản phẩm bảo hiểm
mà chúng tôi sắp triển khai đã xác định đơn vị rủi ro của mình là cấp huyện.
Phía đối tác Swiss đã nghiên cứu hệ thống phân tích thống kê của VN, họ tin cậy
về quy trình lấy mẫu, tính xác suất của cơ quan này. Kết quả xác định thiệt hại
sẽ dựa trên 2 nguồn. Một là, bản báo cáo thống kê thiệt hại tại từng huyện do
các Cục thống kê đưa ra. Hai là, Swiss mua bản quyền, phân tích từ hệ thống
viễn thám vệ tinh địa tĩnh. Từ các bản chụp qua vệ tinh này, họ phân tích ảnh
quang phổ để biết toàn bộ lúa ở từng vùng có dịch bệnh ở cấp độ nào, lượng mưa
ra sao, ảnh hưởng của bão lũ như thế nào… Đối chiếu 2 ngùôn đó, sự chênh lệch
nhau dưới 15% là dễ dàng đi đến thống nhất được mức độ thiệt hại. Việc làm thủ
tục bồi thường sẽ do Chính quyền cấp huyện và ABIC tiến hành. Nông dân không
cần phải làm thủ tục gì cả, họ chỉ việc nhận tiền, vì tiền bồi thường sẽ được
trả đồng loạt tính trên từng đơn vị diện tích (sào ruộng, hoặc ha) với mức chi
trả như nhau.
Chu Khôi thực hiện