Quan điểm của bạn về Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới?
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Các doanh nghiệp hội viên
Dành cho quảng cáo
Thứ bảy, ngày 04/02/2012
Các nghiệp vụ BH khác
Bảo hiểm trợ cấp thu nhập – Cần hay không cần ?
Thông thường, người không thể làm việc do ốm đau, thương tật đủ điều kiện sẽ được nhận trợ cấp thu nhập của Nhà nước. Tuy nhiên, có rất nhiều người không thể làm việc hoặc mất giảm thu nhập do ốm đau, thương tật, nhưng không đủ điều kiện để nhận trợ cấp thu nhập theo chế độ bảo hiểm xã hội. Đối với những cá nhân này, các công ty bảo hiểm thương mại sẽ chào bán sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu nhập nhằm trợ cấp thu nhập định kỳ cho người được bảo hiểm, là người không thể làm việc do ốm đau, thương tật vì tai nạn.

1/ Đặt vấn đề

 

Chúng ta sẽ lo lắng khi không thể làm việc do ốm đau, thương tật nhưng các khoản chi tiêu cho gia đình vẫn tiếp tục đòi hỏi mà không có thu nhập.

 

Thông thường, người không thể làm việc do ốm đau, thương tật đủ điều kiện sẽ được nhận trợ cấp thu nhập của Nhà nước. Tuy nhiên, có rất nhiều người không thể làm việc hoặc mất giảm thu nhập do ốm đau, thương tật, nhưng không đủ điều kiện để nhận trợ cấp thu nhập theo chế độ bảo hiểm xã hội. Đối với những cá nhân này, các công ty bảo hiểm thương mại sẽ chào bán sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu nhập nhằm trợ cấp thu nhập định kỳ cho người được bảo hiểm, là người không thể làm việc do ốm đau, thương tật vì tai nạn.

 

Bài viết dưới đây xin giới thiệu một số vấn đề liên quan đến sản phẩm bảo hiểm trợ cấp thu nhập mà các công ty bảo hiểm thường chào bán.

 

2/ Thế nào là thương tật toàn bộ để hưởng trợ cấp ?

 

Để nhận trợ cấp thu nhập định kỳ, người được bảo hiểm phải thương tật theo đúng định nghĩa thương tật toàn bộ của điều khoản bảo hiểm. Mỗi điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập khác nhau định nghĩa thương tật toàn bộ khác nhau. Theo định nghĩa, công ty bảo hiểm sẽ xác định liệu người được bảo hiểm có đủ điều kiện nhận trợ cấp thu nhập không. Mặc dù đã liệt kê danh sách các định nghĩa thương tật toàn bộ đang và sẽ sử dụng, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến những định nghĩa thương tật toàn bộ mà nhiều công ty bảo hiểm hay sử dụng trong điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập.

 

2.1. Bất kỳ công việc nào.

 

Có thời gian, các điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập định nghĩa thương tật toàn bộ là thương tật khiến cho người được bảo hiểm không thể làm bất kỳ công việc nào. Do định nghĩa thương tật toàn bộ này quá chặt chẽ nên hầu hết người được bảo hiểm không đủ điều kiện nhận trợ cấp thu nhập. Vì vậy, các công ty bảo hiểm đã định nghĩa thương tật toàn bộ ở phạm vi rộng hơn.

 

2.2. Định nghĩa thông thường.

 

Hiện nay, phần lớn định nghĩa thương tật toàn bộ mà các công ty bảo hiểm hay sử dụng quy định: người được bảo hiểm được coi là thương tật toàn bộ nếu vào thời điểm bắt đầu thương tật, người được bảo hiểm không thể thực hiện những nhiệm vụ thiết yếu mà công việc bình thường yêu cầu. Một thời gian nhất định sau thời điểm bắt đầu thương tật, thường từ 2 năm đến 5 năm, người được bảo hiểm chỉ được coi là thương tật toàn bộ khi thương tật đó khiến cho người được bảo hiểm không thể làm bất kỳ công việc nào phù hợp với điều kiện giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm người được bảo hiểm.

 

Các điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập sử dụng định nghĩa thương tật toàn bộ thông thường  cũng quy định: người được bảo hiểm sẽ không được coi là thương tật toàn bộ nếu họ có thể làm các công việc hữu ích khác. Vì vậy, trợ cấp thu nhập sẽ không chi trả nếu người được bảo hiểm, theo điều khoản bảo hiểm này, tự nguyện trở lại làm bất kỳ công việc nào.   

 

2.3. Công việc bình thường trước đây.

 

Một số công ty bảo hiểm tiếp tục mở rộng phạm vi định nghĩa thương tật toàn bộ trong điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập của mình, để chào bán sản phẩm cho những khách hàng làm công việc đặc thù. Định nghĩa này thường xuất hiện trong điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với cá nhân nhiều hơn trong điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với nhóm. Theo định nghĩa này: người được bảo hiểm được coi là thương tật toàn bộ nếu không thể thực hiện những nhiệm vụ thiết yếu mà công việc bình thường trước đây của họ yêu cầu. Trên thực tế, điều khoản bảo hiểm sử dụng khái niệm “công việc bình thường trước đây” chi trả trợ cấp thu nhập ngay cả khi người được bảo hiểm có thể làm các công việc hữu ích khác, nhưng lại không thể làm công việc bình thường trước đây do thương tật.

 

2.4. Mất giảm thu nhập.

 

Một dạng bảo hiểm trợ cấp thu nhập khác là bảo hiểm bảo đảm thu nhập, phổ biến từ cuối những năm 70, lần đầu tiên được chào bán trên thị trường bảo hiểm chuyên nghiệp cho các khách hàng thu nhập cao. Định nghĩa thương tật toàn bộ theo điều khoản bảo hiểm này quy định: người được bảo hiểm chỉ được coi là thương tật toàn bộ nếu mất giảm thu nhập do thương tật đó. Điều khoản bảo hiểm này chi trả trợ cấp thu nhập cả khi người được bảo hiểm thương tật toàn bộ, không thể làm việc và khi người được bảo hiểm, có thể làm việc nhưng vì thương tật mà thu nhập mất giảm so với trước khi thương tật. Điều khoản bảo hiểm này xác định (1): mức trợ cấp thu nhập tối đa chi trả nếu người được bảo hiểm hoàn toàn không thể làm việc và (2): phương pháp xác định thu nhập mất giảm nếu người được bảo hiểm thương tật, vẫn tiếp tục làm việc, nhưng thu nhập mất giảm so với trước khi thương tật.

 

2.5. Thương tật suy đoán.

 

Điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập còn quy định một số trường hợp thương tật suy đoán. Thương tật suy đoán là những trường hợp người được bảo hiểm đương nhiên được coi là  thương tật toàn bộ và vì thế đương nhiên sẽ nhận trợ cấp thu nhập theo điều khoản bảo hiểm, kể cả khi người được bảo hiểm đã phục hồi và tiếp tục làm công việc bình thường trước đây. Thương tật suy đoán bao gồm: mù tạm thời hoặc vĩnh viễn, mất khả năng sử dụng 2 cánh tay, mất tiếng nói, mất khả năng nghe.

 

3/ Quyền lợi bảo hiểm chính của sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu nhập.

 

Về nguyên tắc, trợ cấp thu nhập chi trả theo điều khoản bảo hiểm này không phải thay thế toàn bộ thu nhập của người được bảo hiểm trước khi thương tật. Trợ cấp thu nhập bị giới hạn thấp hơn thu nhập thông thường của người được bảo hiểm trước khi thương tật. Nếu không giới hạn trợ cấp thu nhập thì người được bảo hiểm nhận trợ cấp thu nhập nhiều hơn thu nhập khi đang làm việc. Trong trường hợp này, người được bảo hiểm sẽ không có ý thức trở lại làm việc và muốn kéo dài thời gian thương tật.

 

Tuy nhiên, trợ cấp thu nhập cũng không nên quá thấp vì người được bảo hiểm đã mất giảm thu nhập và buộc thay đổi cuộc sống. Mục đích của điều khoản bảo hiểm này là trợ cấp thu nhập cho người được bảo hiểm để bù đắp những tổn thất tài chính. Vì vậy, trợ cấp thu nhập chi trả phải có mối liên hệ với thu nhập của người được bảo hiểm trước khi thương tật.

 

Điều khoản bảo hiểm này cung cấp 2 phương pháp xác định trợ cấp thu nhập chi trả cho người được bảo hiểm, trong đó (1): công thức tính trợ cấp thu nhập và (2): mức trợ cấp thu nhập cố định. Việc sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào phạm vi bảo hiểm đối với cá nhân hay đối với nhóm, vào thời kỳ thụ hưởng là ngắn hay dài.

 

3.1. Công thức tính trợ cấp thu nhập.

 

Điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với nhóm thường sử dụng công thức để tính trợ cấp thu nhập định kỳ chi trả cho người được bảo hiểm. Công thức này tính trợ cấp thu nhập bằng một tỷ lệ % nhất định so với thu nhập của người được bảo hiểm trước khi thương tật và tổng thu nhập từ tất cả các nguồn mà người được bảo hiểm sẽ nhận. Tỷ lệ % này ở các điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập khác nhau là khác nhau.

 

Điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập dài hạn đối với nhóm quy định trợ cấp thu nhập từ 60% đến 75% thu nhập trước khi thương tật. Theo công thức, người được bảo hiểm có thể nhận trợ cấp thu nhập bằng 75% thu nhập trước khi thương tật và trợ cấp thu nhập sẽ bị cắt giảm nếu người được bảo hiểm nhận thêm từ các nguồn khác.

 

Điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập ngắn hạn đối với nhóm thường quy định tỷ lệ % cao hơn so với điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập dài hạn, từ 90% đến 100% thu nhập trước khi thương tật của người được bảo hiểm.

 

3.2. Mức trợ cấp thu nhập cố định.

 

Điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với cá nhân thường quy định mức trợ cấp thu nhập cố định mà công ty bảo hiểm sẽ chi trả định kỳ cho người được bảo hiểm nếu thương tật toàn bộ. Mức trợ cấp thu nhập cố định dựa trên thu nhập của người được bảo hiểm tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm. Mức trợ cấp thu nhập cố định chi trả cho người được bảo hiểm không tính đến bất kỳ khoản thu nhập nào khác mà người được bảo hiểm sẽ nhận khi thương tật.

 

Công ty bảo hiểm luôn giới hạn mức trợ cấp thu nhập cố định mà mỗi người được bảo hiểm sẽ nhận khi yêu cầu bảo hiểm. Để xác định giới hạn tối đa mức trợ cấp thu nhập cố định này, công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những yếu tố sau:

 

* Tổng thu nhập của người được bảo hiểm, trước khi trừ thuế.

 

* Thu nhập mà người được bảo hiểm chưa được hưởng như lãi chia, lãi suất, nhưng sẽ được hưởng khi thương tật.

 

* Thu nhập mà người được bảo hiểm được hưởng khi thương tật như trợ cấp thu nhập theo điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với nhóm, chương trình tài trợ Chính phủ.

 

* Thu nhập phải chịu thuế của người được bảo hiểm. Thu nhập thông thường phải chịu thuế nhưng trợ cấp thu nhập theo điều khoản trợ cấp thu nhập đối với cá nhân không phải chịu thuế.

 

Tóm lại, trợ cấp thu nhập tối đa mà công ty bảo hiểm chi trả cho người được bảo hiểm là 50% đến 70% thu nhập trước khi trừ thuế tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm. Lưu ý: trợ cấp thu nhập của người được bảo hiểm luôn thấp hơn thu nhập sau khi trừ thuế của người được bảo hiểm trước khi thương tật.

 

4/ Quyền lợi bảo hiểm bổ sung của sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu nhập

 

Ngoài trợ cấp thu nhập chi trả cho người được bảo hiểm khi thương tật toàn bộ, điều khoản bảo hiểm này còn cung cấp một số quyền lợi bảo hiểm bổ sung. Quyền lợi bảo hiểm bổ sung tự động đi kèm với điều khoản bảo hiểm chính hoặc người được bảo hiểm tự do lựa chọn với phí bảo hiểm được tính thêm. Quyền lợi bảo hiểm bổ sung ở đây gồm: Bảo hiểm thương tật bộ phận, Lựa chọn mua thêm quyền lợi bảo hiểm, Quyền lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt.

 

4.1. Bảo hiểm thương tật bộ phận.

 

Một số điều khoản bảo hiểm chi trả trợ cấp thu nhập định kỳ nếu người được bảo hiểm thương tật bộ phận, là thương tật khiến cho người được bảo hiểm không thể thực hiện những nhiệm vụ thiết yếu mà công việc bình thường yêu cầu hoặc không thể làm việc một cách chuyên nghiệp. Trợ cấp thu nhập chi trả cho người được bảo hiểm được quy định trong điều khoản bảo hiểm. Trợ cấp thu nhập do thương tật bộ phận, hoặc là mức trợ cấp thu nhập cố định, thông thường bằng 50% trợ cấp thu nhập do thương tật toàn bộ, hoặc là tính theo công thức được quy định trong điều khoản bảo hiểm. Nếu sử dụng công thức, các mức trợ cấp thu nhập sẽ khác nhau do tỷ lệ % khác nhau tính trên thu nhập mất giảm của người được bảo hiểm do thương tật bộ phận.   

 

4.2. Lựa chọn mua thêm quyền lợi bảo hiểm.

 

Một số điều khoản bảo hiểm cho phép người được bảo hiểm lựa chọn mua thêm quyền lợi bảo hiểm, là trợ cấp thu nhập, nếu thu nhập của người được bảo hiểm ngày càng cao. Điều khoản bảo hiểm này quy định: yêu cầu mua thêm trợ cấp thu nhập chỉ được chấp nhận nếu người được bảo hiểm chứng minh thu nhập của mình ngày càng gia tăng. Điều khoản bảo hiểm sẽ giới hạn tối đa mức trợ cấp thu nhập. Tuy nhiên, người được bảo hiểm không nhất thiết phải cung cấp bằng chứng về “quyền lợi có thể được bảo hiểm” khi yêu cầu mua thêm trợ cấp thu nhập.

 

4.3. Quyền lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt.

 

Một số điều khoản bảo hiểm có quyền lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt chi trả trợ cấp thu nhập tăng dần nếu người được bảo hiểm thương tật. Sự gia tăng trợ cấp thu nhập tương ứng với sự gia tăng chi phí sinh hoạt. Khi điều khoản bảo hiểm chính hoặc điều khoản bảo hiểm riêng cung cấp quyền lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt, sự gia tăng chi phí sinh hoạt được định nghĩa theo các chỉ số giá tiêu dùng chuẩn.

 

5/ Một số điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đặc biệt

 

Bên cạnh điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập thông thường, các công ty bảo hiểm còn chào bán ra thị trường một số điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đặc biệt khác. Những điều khoản bảo hiểm đặc biệt này sẽ trợ cấp thu nhập cho người được bảo hiểm khi thương tật nhằm bù đắp các khoản chi phí khác ngoài khoản thu nhập mất giảm. Công việc kinh doanh sẽ gặp rủi ro tài chính nếu chủ doanh nghiệp, đối tác kinh doanh, người chủ chốt của doanh nghiệp tử vong. Tương tự, công việc kinh doanh cũng sẽ gặp rủi ro tài chính nếu chủ doanh nghiệp, đối tác kinh doanh, người chủ chốt của doanh nghiệp không thể làm việc do thương tật. Dưới đây là 3 điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đặc biệt là Bảo hiểm thương tật người chủ chốt, Bảo hiểm mua lại cổ phần khi thương tật và Bảo hiểm chi phí kinh doanh.

 

5.1. Bảo hiểm thương tật người chủ chốt.

 

Khi công việc kinh doanh phụ thuộc vào một người chủ chốt, doanh nghiệp nên mua bảo hiểm cho người này theo điều khoản bảo hiểm thương tật người chủ chốt. Điều khoản bảo hiểm sẽ trợ cấp tài chính cho doanh nghiệp khi người chủ chốt thương tật. Khi người chủ chốt của doanh nghiệp không thể làm việc do thương tật, doanh nghiệp thiếu người làm việc và như vậy bị tổn thất tài chính. Những tổn thất tài chính sẽ được bù đắp bởi điều khoản bảo hiểm này.

 

5.2. Bảo hiểm mua lại cổ phần khi thương tật.

 

Các bên có thể thỏa thuận mua bán và có các cách thức xử lý quyền lợi bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của các bên trong thỏa thuận mua bán. Thỏa thuận mua bán có một điều khoản quy định việc mua lại cổ phần khi các bên trong thỏa thuận mua bán thương tật. Điều khoản bảo hiểm mua lại cổ phần khi thương tật nhằm trợ cấp tài chính cho một trong các bên còn lại khi một trong các bên của thỏa thuận mua bán bị thương tật.

 

5.3. Bảo hiểm chi phí kinh doanh.

 

Nếu chủ doanh nghiệp thương tật, doanh nghiệp vẫn phải chi phí để tiếp tục hoạt động, ví dụ như chi phí thuê văn phòng vẫn phải thanh toán. Một số công ty bảo hiểm chào bán điều khoản bảo hiểm chi phí kinh doanh nhằm trợ cấp tài chính cho doanh nghiệp để thanh toán chi phí kinh doanh nếu chủ doanh nghiệp thương tật. Điều khoản bảo hiểm này định nghĩa “chi phí kinh doanh” là chi phí thông thường và cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp như trả lương nhân viên, tiền thuê văn phòng, tiền điện thoại, điện, ga và các chi phí khác để duy trì hoạt động của doanh nghiệp.

 

6. Kết luận

 

Hiện tại trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có sản phẩm bảo hiểm này tuy nhiên, mức độ thông dụng và phổ biến của sản phẩm còn chưa nhiều, hy vọng trong thời gian tới, sản phẩm là trở thành một trong những sản phẩm chủ đạo của thị trường, có đủ khả năng cạnh tranh với các chương trình phúc lợi và chính sách bảo hiểm xã hội./.

 

                                                                                                          Diễm Phúc