1/ Đặt vấn đề
Chúng ta sẽ
lo lắng khi không thể làm việc do ốm đau, thương tật nhưng các khoản chi tiêu
cho gia đình vẫn tiếp tục đòi hỏi mà không có thu nhập.
Thông thường,
người không thể làm việc do ốm đau, thương tật đủ điều kiện sẽ được nhận trợ
cấp thu nhập của Nhà nước. Tuy nhiên, có rất nhiều người không thể làm việc
hoặc mất giảm thu nhập do ốm đau, thương tật, nhưng không đủ điều kiện để nhận
trợ cấp thu nhập theo chế độ bảo hiểm xã hội. Đối với những cá nhân này, các
công ty bảo hiểm thương mại sẽ chào bán sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu
nhập nhằm trợ cấp thu nhập định kỳ cho người được bảo hiểm, là người
không thể làm việc do ốm đau, thương tật vì tai nạn.
Bài viết
dưới đây xin giới thiệu một số vấn đề liên quan đến sản phẩm bảo hiểm trợ cấp
thu nhập mà các công ty bảo hiểm thường chào bán.
2/ Thế nào là thương tật toàn bộ để hưởng trợ cấp ?
Để nhận trợ
cấp thu nhập định kỳ, người được bảo hiểm phải thương tật theo đúng định nghĩa
thương tật toàn bộ của điều khoản bảo hiểm. Mỗi điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu
nhập khác nhau định nghĩa thương tật toàn bộ khác nhau. Theo định nghĩa, công
ty bảo hiểm sẽ xác định liệu người được bảo hiểm có đủ điều kiện nhận trợ cấp
thu nhập không. Mặc dù đã liệt kê danh sách các định nghĩa thương tật toàn bộ
đang và sẽ sử dụng, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến những định nghĩa
thương tật toàn bộ mà nhiều công ty bảo hiểm hay sử dụng trong điều khoản bảo
hiểm trợ cấp thu nhập.
2.1. Bất kỳ
công việc nào.
Có
thời gian, các điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập định nghĩa thương tật toàn
bộ là thương tật khiến cho người được bảo hiểm không thể làm bất kỳ công việc
nào. Do định nghĩa thương tật toàn bộ này quá chặt chẽ nên hầu hết người được
bảo hiểm không đủ điều kiện nhận trợ cấp thu nhập. Vì vậy, các công ty bảo hiểm
đã định nghĩa thương tật toàn bộ ở phạm vi rộng hơn.
2.2. Định
nghĩa thông thường.
Hiện nay,
phần lớn định nghĩa thương tật toàn bộ mà các công ty bảo hiểm hay sử dụng quy
định: người được bảo hiểm được coi là thương tật toàn bộ nếu vào thời điểm bắt
đầu thương tật, người được bảo hiểm không thể thực hiện những nhiệm vụ thiết
yếu mà công việc bình thường yêu cầu. Một thời gian nhất định sau thời điểm bắt
đầu thương tật, thường từ 2 năm đến 5 năm, người được bảo hiểm chỉ được coi là
thương tật toàn bộ khi thương tật đó khiến cho người được bảo hiểm không thể
làm bất kỳ công việc nào phù hợp với điều kiện giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm người
được bảo hiểm.
Các điều
khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập sử dụng định nghĩa thương tật toàn bộ thông
thường cũng quy định: người được bảo hiểm sẽ không được coi là thương tật
toàn bộ nếu họ có thể làm các công việc hữu ích khác. Vì vậy, trợ cấp thu nhập sẽ
không chi trả nếu người được bảo hiểm, theo điều khoản bảo hiểm này, tự nguyện
trở lại làm bất kỳ công việc nào.
2.3. Công
việc bình thường trước đây.
Một số công
ty bảo hiểm tiếp tục mở rộng phạm vi định nghĩa thương tật toàn bộ trong điều
khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập của mình, để chào bán sản phẩm cho những khách
hàng làm công việc đặc thù. Định nghĩa này thường xuất hiện trong điều khoản
bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với cá nhân nhiều hơn trong điều khoản bảo hiểm
trợ cấp thu nhập đối với nhóm. Theo định nghĩa này: người được bảo hiểm được
coi là thương tật toàn bộ nếu không thể thực hiện những nhiệm vụ thiết yếu mà
công việc bình thường trước đây của họ yêu cầu. Trên thực tế, điều khoản bảo
hiểm sử dụng khái niệm “công việc bình thường trước đây” chi trả trợ cấp thu
nhập ngay cả khi người được bảo hiểm có thể làm các công việc hữu ích khác, nhưng
lại không thể làm công việc bình thường trước đây do thương tật.
2.4. Mất
giảm thu nhập.
Một dạng bảo
hiểm trợ cấp thu nhập khác là bảo hiểm bảo đảm thu nhập, phổ biến
từ cuối những năm 70, lần đầu tiên được chào bán trên thị trường bảo hiểm
chuyên nghiệp cho các khách hàng thu nhập cao. Định nghĩa thương tật toàn bộ
theo điều khoản bảo hiểm này quy định: người được bảo hiểm chỉ được coi là
thương tật toàn bộ nếu mất giảm thu nhập do thương tật đó. Điều khoản bảo hiểm
này chi trả trợ cấp thu nhập cả khi người được bảo hiểm thương tật toàn bộ,
không thể làm việc và khi người được bảo hiểm, có thể làm việc nhưng vì thương
tật mà thu nhập mất giảm so với trước khi thương tật. Điều khoản bảo hiểm này
xác định (1): mức trợ cấp thu nhập tối đa chi trả nếu người được bảo hiểm hoàn
toàn không thể làm việc và (2): phương pháp xác định thu nhập mất giảm nếu
người được bảo hiểm thương tật, vẫn tiếp tục làm việc, nhưng thu nhập mất giảm
so với trước khi thương tật.
2.5. Thương tật suy đoán.
Điều khoản
bảo hiểm trợ cấp thu nhập còn quy định một số trường hợp thương tật suy đoán.
Thương tật suy đoán là những trường hợp người được bảo hiểm đương nhiên được
coi là thương tật toàn bộ và vì thế đương nhiên sẽ nhận trợ cấp thu nhập
theo điều khoản bảo hiểm, kể cả khi người được bảo hiểm đã phục hồi và tiếp tục
làm công việc bình thường trước đây. Thương tật suy đoán bao gồm: mù tạm thời hoặc
vĩnh viễn, mất khả năng sử dụng 2 cánh tay, mất tiếng nói, mất khả năng nghe.
3/ Quyền lợi bảo hiểm chính của sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu nhập.
Về nguyên
tắc, trợ cấp thu nhập chi trả theo điều khoản bảo hiểm này không phải thay thế
toàn bộ thu nhập của người được bảo hiểm trước khi thương tật. Trợ cấp thu nhập
bị giới hạn thấp hơn thu nhập thông thường của người được bảo hiểm trước khi
thương tật. Nếu không giới hạn trợ cấp thu nhập thì người được bảo hiểm nhận
trợ cấp thu nhập nhiều hơn thu nhập khi đang làm việc. Trong trường hợp này,
người được bảo hiểm sẽ không có ý thức trở lại làm việc và muốn kéo dài thời
gian thương tật.
Tuy nhiên,
trợ cấp thu nhập cũng không nên quá thấp vì người được bảo hiểm đã mất giảm thu
nhập và buộc thay đổi cuộc sống. Mục đích của điều khoản bảo hiểm này là trợ
cấp thu nhập cho người được bảo hiểm để bù đắp những tổn thất tài chính. Vì
vậy, trợ cấp thu nhập chi trả phải có mối liên hệ với thu nhập của người được
bảo hiểm trước khi thương tật.
Điều khoản
bảo hiểm này cung cấp 2 phương pháp xác định trợ cấp thu nhập chi trả cho người
được bảo hiểm, trong đó (1): công thức tính trợ cấp thu nhập và (2): mức trợ
cấp thu nhập cố định. Việc sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào phạm vi bảo
hiểm đối với cá nhân hay đối với nhóm, vào thời kỳ thụ hưởng là ngắn hay dài.
3.1. Công
thức tính trợ cấp thu nhập.
Điều khoản
bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với nhóm thường sử dụng công thức để tính trợ cấp
thu nhập định kỳ chi trả cho người được bảo hiểm. Công thức này tính trợ cấp
thu nhập bằng một tỷ lệ % nhất định so với thu nhập của người được bảo hiểm
trước khi thương tật và tổng thu nhập từ tất cả các nguồn mà người được bảo
hiểm sẽ nhận. Tỷ lệ % này ở các điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập khác nhau
là khác nhau.
Điều khoản
bảo hiểm trợ cấp thu nhập dài hạn đối với nhóm quy định trợ cấp thu nhập từ 60%
đến 75% thu nhập trước khi thương tật. Theo công thức, người được bảo hiểm có
thể nhận trợ cấp thu nhập bằng 75% thu nhập trước khi thương tật và trợ cấp thu
nhập sẽ bị cắt giảm nếu người được bảo hiểm nhận thêm từ các nguồn khác.
Điều khoản
bảo hiểm trợ cấp thu nhập ngắn hạn đối với nhóm thường quy định tỷ lệ % cao hơn
so với điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập dài hạn, từ 90% đến 100% thu nhập
trước khi thương tật của người được bảo hiểm.
3.2. Mức trợ
cấp thu nhập cố định.
Điều khoản
bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với cá nhân thường quy định mức trợ cấp thu nhập
cố định mà công ty bảo hiểm sẽ chi trả định kỳ cho người được bảo hiểm nếu
thương tật toàn bộ. Mức trợ cấp thu nhập cố định dựa trên thu nhập của người
được bảo hiểm tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm. Mức trợ cấp thu nhập cố định chi
trả cho người được bảo hiểm không tính đến bất kỳ khoản thu nhập nào khác mà
người được bảo hiểm sẽ nhận khi thương tật.
Công ty bảo
hiểm luôn giới hạn mức trợ cấp thu nhập cố định mà mỗi người được bảo hiểm sẽ
nhận khi yêu cầu bảo hiểm. Để xác định giới hạn tối đa mức trợ cấp thu nhập cố
định này, công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những yếu tố sau:
* Tổng thu
nhập của người được bảo hiểm, trước khi trừ thuế.
* Thu nhập
mà người được bảo hiểm chưa được hưởng như lãi chia, lãi suất, nhưng sẽ được
hưởng khi thương tật.
* Thu nhập
mà người được bảo hiểm được hưởng khi thương tật như trợ cấp thu nhập theo điều
khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đối với nhóm, chương trình tài trợ Chính phủ.
* Thu nhập
phải chịu thuế của người được bảo hiểm. Thu nhập thông thường phải chịu thuế
nhưng trợ cấp thu nhập theo điều khoản trợ cấp thu nhập đối với cá nhân không
phải chịu thuế.
Tóm lại, trợ
cấp thu nhập tối đa mà công ty bảo hiểm chi trả cho người được bảo hiểm là 50%
đến 70% thu nhập trước khi trừ thuế tại thời điểm yêu cầu bảo hiểm. Lưu ý: trợ
cấp thu nhập của người được bảo hiểm luôn thấp hơn thu nhập sau khi trừ thuế
của người được bảo hiểm trước khi thương tật.
4/ Quyền lợi bảo hiểm bổ sung của sản phẩm Bảo hiểm trợ cấp thu nhập
Ngoài trợ
cấp thu nhập chi trả cho người được bảo hiểm khi thương tật toàn bộ, điều khoản
bảo hiểm này còn cung cấp một số quyền lợi bảo hiểm bổ sung. Quyền lợi bảo hiểm
bổ sung tự động đi kèm với điều khoản bảo hiểm chính hoặc người được bảo hiểm
tự do lựa chọn với phí bảo hiểm được tính thêm. Quyền lợi bảo hiểm bổ sung ở
đây gồm: Bảo hiểm thương tật bộ phận, Lựa chọn mua thêm quyền lợi bảo hiểm,
Quyền lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt.
4.1. Bảo hiểm thương tật bộ phận.
Một số điều
khoản bảo hiểm chi trả trợ cấp thu nhập định kỳ nếu người được bảo hiểm thương
tật bộ phận, là thương tật khiến cho người được bảo hiểm không thể thực hiện
những nhiệm vụ thiết yếu mà công việc bình thường yêu cầu hoặc không thể làm
việc một cách chuyên nghiệp. Trợ cấp thu nhập chi trả cho người được bảo hiểm
được quy định trong điều khoản bảo hiểm. Trợ cấp thu nhập do thương tật bộ
phận, hoặc là mức trợ cấp thu nhập cố định, thông thường bằng 50% trợ cấp thu
nhập do thương tật toàn bộ, hoặc là tính theo công thức được quy định trong
điều khoản bảo hiểm. Nếu sử dụng công thức, các mức trợ cấp thu nhập sẽ khác
nhau do tỷ lệ % khác nhau tính trên thu nhập mất giảm của người được bảo hiểm do
thương tật bộ phận.
4.2. Lựa chọn mua thêm quyền lợi bảo hiểm.
Một số điều
khoản bảo hiểm cho phép người được bảo hiểm lựa chọn mua thêm quyền lợi bảo
hiểm, là trợ cấp thu nhập, nếu thu nhập của người được bảo hiểm ngày càng cao.
Điều khoản bảo hiểm này quy định: yêu cầu mua thêm trợ cấp thu nhập chỉ được
chấp nhận nếu người được bảo hiểm chứng minh thu nhập của mình ngày càng gia
tăng. Điều khoản bảo hiểm sẽ giới hạn tối đa mức trợ cấp thu nhập. Tuy nhiên,
người được bảo hiểm không nhất thiết phải cung cấp bằng chứng về “quyền lợi có
thể được bảo hiểm” khi yêu cầu mua thêm trợ cấp thu nhập.
4.3. Quyền
lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt.
Một số điều
khoản bảo hiểm có quyền lợi bảo hiểm điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt chi trả
trợ cấp thu nhập tăng dần nếu người được bảo hiểm thương tật. Sự gia tăng trợ
cấp thu nhập tương ứng với sự gia tăng chi phí sinh hoạt. Khi điều khoản bảo
hiểm chính hoặc điều khoản bảo hiểm riêng cung cấp quyền lợi bảo hiểm điều
chỉnh theo chi phí sinh hoạt, sự gia tăng chi phí sinh hoạt được định nghĩa
theo các chỉ số giá tiêu dùng chuẩn.
5/ Một số điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đặc biệt
Bên cạnh
điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập thông thường, các công ty bảo hiểm còn
chào bán ra thị trường một số điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đặc biệt
khác. Những điều khoản bảo hiểm đặc biệt này sẽ trợ cấp thu nhập cho người được
bảo hiểm khi thương tật nhằm bù đắp các khoản chi phí khác ngoài khoản thu nhập
mất giảm. Công việc kinh doanh sẽ gặp rủi ro tài chính nếu chủ doanh nghiệp,
đối tác kinh doanh, người chủ chốt của doanh nghiệp tử vong. Tương tự, công
việc kinh doanh cũng sẽ gặp rủi ro tài chính nếu chủ doanh nghiệp, đối tác kinh
doanh, người chủ chốt của doanh nghiệp không thể làm việc do thương tật. Dưới
đây là 3 điều khoản bảo hiểm trợ cấp thu nhập đặc biệt là Bảo hiểm thương tật người
chủ chốt, Bảo hiểm mua lại cổ phần khi thương tật và Bảo hiểm chi phí kinh
doanh.
5.1. Bảo hiểm thương tật người chủ chốt.
Khi công
việc kinh doanh phụ thuộc vào một người chủ chốt, doanh nghiệp nên mua bảo hiểm
cho người này theo điều khoản bảo hiểm thương tật người chủ chốt. Điều khoản
bảo hiểm sẽ trợ cấp tài chính cho doanh nghiệp khi người chủ chốt thương tật.
Khi người chủ chốt của doanh nghiệp không thể làm việc do thương tật, doanh
nghiệp thiếu người làm việc và như vậy bị tổn thất tài chính. Những tổn thất
tài chính sẽ được bù đắp bởi điều khoản bảo hiểm này.
5.2. Bảo
hiểm mua lại cổ phần khi thương tật.
Các bên có
thể thỏa thuận mua bán và có các cách thức xử lý quyền lợi bảo hiểm theo hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ của các bên trong thỏa thuận mua bán. Thỏa thuận mua bán
có một điều khoản quy định việc mua lại cổ phần khi các bên trong thỏa thuận
mua bán thương tật. Điều khoản bảo hiểm mua lại cổ phần khi thương tật nhằm trợ
cấp tài chính cho một trong các bên còn lại khi một trong các bên của thỏa
thuận mua bán bị thương tật.
5.3. Bảo
hiểm chi phí kinh doanh.
Nếu
chủ doanh nghiệp thương tật, doanh nghiệp vẫn phải chi phí để tiếp tục hoạt
động, ví dụ như chi phí thuê văn phòng vẫn phải thanh toán. Một số công ty bảo
hiểm chào bán điều khoản bảo hiểm chi phí kinh doanh nhằm trợ cấp tài chính cho
doanh nghiệp để thanh toán chi phí kinh doanh nếu chủ doanh nghiệp thương tật.
Điều khoản bảo hiểm này định nghĩa “chi phí kinh doanh” là chi phí thông thường
và cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp như trả lương nhân viên, tiền thuê
văn phòng, tiền điện thoại, điện, ga và các chi phí khác để duy trì hoạt động
của doanh nghiệp.
6. Kết luận
Hiện tại
trên thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có sản phẩm bảo hiểm này tuy nhiên, mức độ
thông dụng và phổ biến của sản phẩm còn chưa nhiều, hy vọng trong thời gian
tới, sản phẩm là trở thành một trong những sản phẩm chủ đạo của thị trường, có
đủ khả năng cạnh tranh với các chương trình phúc lợi và chính sách bảo hiểm xã
hội./.
Diễm Phúc