Tỉ suất sinh 1,2%/năm
Tính đến thời điểm 0 giờ ngày 1.4.2009, dân số VN là 85.789.573 người. Như vậy, tính từ cuộc điều tra dân số lần trước (1999) thì dân số VN tăng thêm 9,5 triệu người, và bình quân mỗi năm tăng thêm 947.000 người.
Đặc biệt, so với cuộc tổng điều tra dân số năm 1999, cơ cấu dân số lúc này có sự thay đổi, mà theo đó tỉ trọng dân số dưới 15 tuổi đã giảm từ 33% năm 1999 xuống còn 25%; nhưng tỉ trọng dân số của nhóm 15 – 59 tuổi – nhóm chủ lực của lực lượng lao động - lại tăng từ 58% lên 66% và nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên đã tăng từ 8% lên 9%.
Do tỉ lệ người già tăng lên trong khi tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi giảm mạnh trong 10 năm qua, nên “chỉ số già hoá” của dân số VN đã tăng từ 24,5% năm 1999 lên tới 35,9%. Nhưng cũng qua điều tra, đã cho kết quả là tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của dân số VN đã đạt 72,8 tuổi - tăng 3,7 tuổi đối với nam giới và tăng 5,5 tuổi đối với nữ. Điều này cho thấy có sự tiến bộ đáng kể trong 10 năm qua về tình trạng kinh tế, chăm sóc sức khoẻ và tình trạng sức khoẻ của nhân dân.
Cũng qua kết quả điều tra cho thấy, tỉ suất tăng dân số bình quân/năm của giai đoạn 1999 – 2009 là 1,2%, giảm 0,5% so với 10 năm trước.
Một điểm đáng lưu tâm là tỉ số giới tính khi sinh của VN đang ở mức tương đối cao, đạt mức 111 bé trai/100 bé gái. Tỉ số này còn đặc biệt cao ở Hưng Yên có tỉ lệ chênh lệch lên tới 131 bé trai/100 bé gái. Số liệu này cho thấy những quan ngại về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở VN là có cơ sở.
Cũng theo số liệu điều tra, tính đến thời điểm 0 giờ ngày 1.4.2009, cả nước có 43,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 51% dân số. Trong đó, thành thị có 11,9 triệu người - chiếm 27%; nông thôn có 31,9 triệu người - chiếm 73% và lao động nữ chiếm 46,6% tổng lực lượng lao động.
Nếu năm 1989, cả nước mới có 88% dân số biết chữ thì năm 1999 là 90%. Đến năm 2009, tỉ lệ dân số biết chữ là 93,5%. Cả nước đang có 16,4 triệu người chưa tốt nghiệp tiểu học (20,8%); 20,2 triệu người tốt nghiệp tiểu học (25,7%); 17,2 triệu người tốt nghiệp trung học cơ sở (21,2%); 12,2 triệu người tốt nghiệp trung học phổ thông; 1,7 triệu người tốt nghiệp sơ cấp (2,1%); 3 triệu người tốt nghiệp trung cấp (3,9%); 1,1 triệu người tốt nghiệp cao đẳng (1,3%); 2,7 triệu người tốt nghiệp đại học (3,4%); 141.000 người có học vị trên đại học (0,2%).
Vẫn còn nhiều hộ không có nhà ở
Nếu theo tiêu chuẩn nhà dùng để ở phải đạt yêu cầu thì qua tổng điều tra đã cho thấy cứ 100.000 hộ thì vẫn còn 5 hộ dân không có nhà ở, hoặc nơi ở không đảm bảo những điều kiện nêu trên. Trong đó, Tây Nguyên là vùng có tỉ lệ nhà ở thấp nhất. Trong những hộ có nhà ở, số hộ có nhà kiên cố chiếm 47%; nhà bán kiên cố chiếm 37,8%; nhà thiếu kiên cố chiếm 7,8% và nhà đơn sơ là 7,4%.
Về hình thức sở hữu nhà ở, nhà riêng chiếm 93%, nhà thuê hoặc mượn của tư nhân chiếm 6,4%... diện tích ở bình quân đầu người của cả nước hiện là 18,6m2. Trong đó cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (22m2) và thấp nhất là vùng Tây Nguyên (15,3m2). Phân loại nhà theo thời gian thì chỉ có 6% nhà được sử dụng trước năm 1975; 45% sử dụng từ 1975 – 1999 và 49% nhà sử dụng từ năm 2000 đến nay. Điều này phản ánh tốc độ xây dựng nhà ở đang ngày càng tăng nhanh.
Về chất lượng cuộc sống, đến nay đã có 87% số hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh; 54% hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh; 96% hộ sử dụng điện lưới để thắp sáng; 87% hộ có tivi và 46% số hộ có điện thoại cố định.