Quan điểm của bạn về Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới?
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Các doanh nghiệp hội viên
Dành cho quảng cáo
Thứ bảy, ngày 04/02/2012
Chuyển động thị trường
Tái cơ cấu thị trường Bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
Trong tạp chí Bảo hiểm Việt nam 2009 do Hiệp hội Bảo hiểm Việt nam và Báo Công thương xuất bản có nhiều bài đề cập đến việc cũng cố và tái cơ cấu lại doanh nghiệp bảo hiểm nổi bật là bài phát biểu của ông bộ trưởng Tài chính Vũ văn Ninh trong tiêu đề " Bảo hiểm Việt nam với mục tiêu phát triển lành mạnh, an toàn và vững chắc". Đặc biệt bài của ông Phùng đắc Lộc, tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt nam nêu cụ thể sáu vấn đề cần thực hiện trong việc tái cấu trúc doanh nghiệp bảo hiểm.

Trên cơ sở gợi ý này, tôi có thêm một vài ý kiến về việc tái cấu trúc thị trường bảo hiểm Việt nam.

I.  TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

1.  Tăng trưởng mạnh mẽ về lượng.

Tính từ thời điểm Nhà nước chủ trương xóa bỏ độc quyền về bảo hiểm thông qua Nghị định 100/NĐ-CP năm 1993 đến nay là 16 năm. Chỉ trong 16 năm từ một doanh nghiệp bảo hiểm độc quyền nhà nước là Bảo Việt, đến nay đã có 49 công ty bảo hiểm gồm: 27 DNBH Phi nhân thọ, 11 DNBH Nhân thọ, 1 DN Tái bảo hiểm và 10 DN Môi giới bảo hiểm  hơn 120.000 đại lý bảo hiểm, với tổng vốn chủ sở hữu hơn 21.000 tỷ VNĐ.

 

Xét về hình thức tổ chức cũng rất đa dạng bao gồm: Công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài, triển khai cả hai loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

 

Xét về doanh thu từ vài trăm tỷ năm 1993 lên 21.163 tỷ VNĐ 2008. Tốc độ phát tiển bình quân toàn thị trường khoảng 30%. Dự phòng nghiệp vụ: 40.647 tỷ VNĐ, Đầu tư 54.433 tỷ VNĐ ( Số liệu của Hiệp hội bảo hiểm Việt nam 2008 ).

2.  Tăng trưởng về chất.

Đội ngũ nhân viên bảo hiểm từ vài ngàn người đến nay vài chục ngàn người trong đó một số được đào tạo trong và ngoài nước và đã trãi qua kinh nghiệm thực tế nhiều năm.

 

Sản phẩm bảo hiểm cũng được đa dạng hóa từ vài chục sản phẩm  lên hơn 100 sản phẩm. Các quy trình nghiệp vụ, quy chế quản lý ngày càng được hoàn  thiện..

 

Vụ quản lý bảo hiểm được nâng lên thành Cục quản lý giám sát bảo hiểm thể hiện sự quan tâm của Nhà nước về công tác bảo hiểm. Năm 2008 Cục đã chính thức là thành viên của Hiệp hội quốc tế các nhà quản lý bảo hiểm (IAIS). Hệ thống văn bản quản lý bảo hiểm được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với quy định của WTO như: Nghị định 45/2007/NĐ-CP và Nghị định 46/2007/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn 155/2007/TT-BTC và Thông tư 156/2007/TT-BTC, 86/2009/TT-BTC . . .

 

Về cơ cấu tổ chức, các doanh nghiệp nhà nước như: Bảo việt, Bảo minh, PVIC được chuyển đổi thành công ty cổ phần bảo hiểm. Bảo việt, Bảo minh đã gọi vốn của các công ty bảo hiểm lớn của nước ngoài là HSBC và AXA để tăng chất lượng hoạt động ngang tầm quốc tế.

 

II.  NHỮNG TRỞ NGẠI TRƯỚC NGƯỠNG CỬA WTO.

1.  Thiếu hụt nhân lực do tăng trưởng nóng.

Với sự phát triển nhanh số lượng các công ty bảo hiểm  tập trung vào gia đoạn cuối:

      

TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG SỐ LƯỢNG CÔNG TY BHPNT TỪ 1994 - 2008

 

NĂM

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

C.TY

2

4

6

7

8

8

8

9

11

12

12

15

20

21

27

 

Qua số liệu trên ta thấy số công ty bảo hiểm tăng nhanh vào năm 2006: 5 công ty, 2008: 6 công ty.

 

Sự tăng nhanh số lượng công ty vào giai đoạn cuối dẫn đến hiện tượng thiếu nhân lực  có kỹ năng. Hầu hết các lãnh đạo chủ chốt và các nhân viên bảo hiểm của các  đơn vị mới thành lập chưa có đầy đủ kinh nghiệm điều hành một công ty bảo hiểm độc lập. Tình trạng di chuyển nhân sự giữa công ty cũ và công ty mới làm náo động thị trường.  Việc đào tạo bổ sung cho nhân lực mới ít được chú ý vì sức ép doanh thu đối với các đơn vị mới thành lập. Ít công ty có chiến lược kinh doanh dài hạn mà chủ yếu tập trung vào ngắn hạn. Hơn nữa do thị trường bảo hiểm Việt nam đã trưởng thành nhiều sau 15 năm nên sự trợ giúp không tính tiền của các công ty bảo hiểm và chính phủ nước ngoài không còn như những năm đầu.

 

Hiện tượng cạnh tranh không đúng luật phát triển mạnh như: không điều tra rủi ro, giảm phí, tăng hoa hồng, Khuyến mãi, mở rộng điều khoản . . . mà Cục quản lý giám sát bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm đã phê phán và nhận xét của dư luận thị trường qua báo chí, bài viết.

 

Hiện tượng hầu hết các đơn vị bảo hiểm lỗ kinh doanh nghiệp vụ và 5 công ty lỗ toàn diện năm 2008 được nêu lên trong tạp chí Bảo hiểm Việt nam 2009 là kết quả của quá trình này.

2.  Đổi mới cơ cấu tổ chức bảo hiểm nhưng không hoàn chỉnh.

Năm 2004 chính phủ chủ trương chuyển các công ty bảo hiểm nhà nước như: Bảo Việt, Bảo Minh, PVIC . . . thành công ty cổ phần. Đây là một chủ trương đúng để tăng thêm vốn và tính tự quản, tự chịu trách nhiệm của các công ty này. Tuy nhiên việc thực hiện vội vàng và không hoàn chỉnh.

 

Hầu hết các công ty bảo hiểm nhà nước do được ưu đãi nên trong thời gian hoạt động đã tích lũy nhiều tài sản cố định ( chủ yếu là các trụ sở làm việc ) với giá rẽ nhưng không được đánh giá lại đúng giá thị trường để đưa vào cổ phần hóa đã làm thiệt thòi phần vốn nhà nước.

 

Mặt khác tính đến nay cổ phần nhà nước vẫn chiếm chủ yếu trong các công ty này, nên bản chất ưu việt của công ty cổ phần không được phát huy. Với đặc tính như trên việc điều hành các công ty cổ phần này còn nhiều vướng mắc. Vấn đề được nêu ra là: Vai trò giữa cổ đông nhà nước và các cổ đông khác như thế nào là hợp lý? Vai trò tự quản của các công ty này có như các công ty cổ phần tư nhân? Lãnh đạo các công ty này là công chức nhà nước hay là doanh nhân thông thường?

 

Vừa qua báo chí phản ảnh vấn đề lương của các lãnh đạo tổng công ty SCIC và các tổng công ty, tập đoàn kinh doanh Nhà nước với sự chênh lệch quá lớn giữa các tập đoàn, tổng công ty ( chênh lệch lương đến 10 lần ) thấy rõ sự không thống nhất về cách trả lương. Điều này cũng có thể xảy ra ở các công ty cổ phần bảo hiểm mà vốn nhà nước là chính.

 

3.  Việc hình thành các công ty cổ phần bảo hiểm ngành.

Xu hướng thành lập các công ty bảo hiểm ngành đang nở rộ thời gian gần đây. Trong bài " Thị trường bảo hiểm lợi thế sân nhà " của tác giả Vũ Sơn đã nêu những công ty bảo hiểm có lợi thế sân nhà như: Công ty bảo hiểm SHB - Vinacomin (SVIC) cổ đông chính là tập đoàn than khoán sản; Công ty bảo hiểm quân đội (MIC), Công ty bảo hiểm Bưu điện (PTI); Công ty bảo hiểm dầu khí ( PVIC); Công ty bảo hiểm hàng không . . . Nhờ lợi thế sân nhà nên các công ty này đã có kết quả doanh thu tốt hơn so với thị trường.

 

Nghị định 100/1993/NĐ/CP ra đời nhằm xóa bỏ độc quyền trong bảo hiểm. Nhờ chủ trương này với sự cạnh tranh của giữa công ty bảo hiểm Bảo Việt và Bảo Minh về bảo hiểm hàng không đã tiết liệm cho Hàng không Việt nam 2.529.000 USD tiền phí bảo hiểm trong 3 năm từ 1995 đến 1997. Thực chất có kết quả tiết kiệm này là do chúng ta đã chuyển sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trong nước thành sự cạnh tranh giữa các nhóm tái bảo hiểm nước ngoài. Trong hoạt động bảo hiểm ai cũng biết rằng đối với những dịch vụ có giá trị lớn như: hàng không, dầu khí, vệ tinh . . . điều khoản và phí do các nhà tái bào hiểm bên ngoài quyết định vì họ nhận trách nhiệm từ 95 đến 99%. Do vậy nếu chúng ta tạo sự độc quyền trong nước cũng có nghĩa là tạo sự độc quyền ở nước ngoài.

 

Chính vì lý do này NĐ.45/2007/NĐ-CP tại Điều 3, Mục 2 có quy định: " . . . Không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm. ".

 

TT.86/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 155/2007/TT-BTC tại Mục 10 nhấn mạnh: " Nghiêm cấm việc doanh nghiệp bảo hiểm tranh thủ uy tín, ảnh hưởng và chỉ đạo dưới mọi hình thức của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản cấp trên và chủ góp vốn đầu tư để cung cấp dịch vụ bảo hiểm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm".

4.  Chất lượng quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm.

Thời gian vừa qua Nhà nước đã chú ý nhiều đến việc nâng cao chất lượng quản lý ngành bảo hiểm đã được nhiều người, nhiều tổ chức nhận xét và đã được nêu ở trên. Tuy nhiên so với yêu cầu hội nhập WTO còn nhiều việc phải làm. Điều này cũng đã được nhiều người, nhiều tổ chức nói tới, xin tóm tắt như sau:

(1)   Một số quy định pháp luật đặt ra chưa phù hợp thực tế hoặc không ai thực hiện làm giảm tính thượng tôn pháp luật.

 

Thí dụ 1: Quyết định 153/2003/QĐ-BTC ngày 22 tháng 09 năm 2003 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm Điều 3 quy định: " Các doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm tính toán các chỉ tiêu giám sát và gửi kết quả cho Bộ Tài chính vào thời điểm nộp báo cáo tài chính hàng năm theo quy định hiện hành. . . " và Điều 4 quy định: " Vụ Bảo hiểm có trách nhiệm phân tích, đánh giá kết quả hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua Hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm và tiến hành các biện pháp kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật. ", nhưng đến nay không ai thực hiện theo hệ thống chỉ tiêu này kể cà Vụ bảo hiềm ( nay là Cục quàn lý giám sát bảo hiêm ).

 

Thí dụ 2: Trên cơ sở tình hình thực tế năm 2008 các doanh nghiệp bảo hiểm đua nhau giảm phí, khuyến mãi sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc chủ xe cơ giới làm rối loạn thị trướng, Bộ Tài chính có chỉ thị cấm các công ty bảo hiểm khuyến mãi, chi phí ngoài hoa hồng Bộ Tài chính quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, nhưng thực tế có nhiều nơi vẫn tiếp tục khuyến mãi tặng nón, tăng hoa hồng mà không ai bị phạt.

(2)   Quy đinh về kế toán bảo hiểm hiện không còn phù hợp với sự phát triển của bảo hiểm. Điều này được nhiều tác giả đề cập trong tạp chí Bảo hiểm Việt nam 2009.

Nhiều vân đề hạch toán cần được quy định cụ thể như:

§         Trích dự phòng phí cho đối tượng bảo hiểm mà giá trị bảo hiểm tăng dần theo thời gian như bảo hiểm công trình xây dựng, lắp đặt;

§         Hạch toán lợi nhuận kinh doanh theo từng nghiệp vụ toàn công ty và lợi nhuận quy ước theo từng đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc . . . ;

§         Quản lý nợ: Quy định thế nào là nợ quá hạn, nợ khó đòi và nợ không đòi được để có cơ sở tính biên khả năng thanh toán;

§         . . .

(3) Chất lượng báo cáo tài chính chưa cao và thiếu minh bạch.

Hầu hết báo cáo kết quả kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm không chú ý đến các chỉ tiêu chất lượng như: Tỷ số thanh toán nhanh, Tỷ số chiếm dụng vốn,  Tỷ số nợ, Tỷ suất đầu tư chung, Tỷ suất đầu tư tài sản cố định, Tỷ suất đầu tư dài hạn trong hạn, Tỷ suất khả năng trả nợ, Tỷ số hoa hồng khai thác, Tỷ lệ chi quản lý, Tỷ số chi trực tiếp kinh doanh, Tỷ số chi bồi thường gộp, Tỷ số bồi thường thuần,  Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu, Tỷ suất lợi nhuận thuần trên tài sản (ROA), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE) . . .. Hầu hết các công ty không thực hiện hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Bộ Tài chính.

 

Số liệu báo cáo, thống kê về bảo hiểm không cập nhật, không đầy đủ, kể cả số liệu từ Cục quản lý giám sát bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm. Do vậy rất khó phân tích đúng thực trạng của hoạt động bảo hiểm. Số liệu bảo hiểm cũng thiếu tính công khai, minh bạch. Thậm chí đã là các công ty bảo hiểm đại chúng, công ty niêm yết nhưng không có báo cáo đầy đủ tình hình kinh doanh của công ty trên website của mình mà đây là điều bắt buộc đối với các công ty này.

III.  MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM

Trên cơ sở những phân tích trên, chúng ta có thể nêu lên một số giải pháp để phát triển thị trường phi nhân thọ Việt nam như sau:

1.      Tổ chức lại hệ thống các doanh nghiệp bảo hiểm qua các biện pháp:

(1)   Quy định rõ tiêu chuẩn năng lực nhân sự của doanh nghiệp bảo hiểm. Những doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn phải bổ sung hoặc tạm đình chỉ hoạt động;

 

(2)   Quy định tiêu chuẩn tối thiểu để được thành lập công ty bảo hiểm trong đó bao gồm vốn pháp định, tiêu chuẩn đến lãnh đạo cấp phòng, chi nhánh, tiêu chuẩn về trang bị công nghệ thông tin . . ;

 

(3)   Cho gia hạn các công ty chưa đủ vốn pháp định, chưa đủ tiêu chuẩn quy định và tạm đình chỉ hoạt động nếu hết hạn gia hạn mà vẫn chưa đáp ứng yêu cầu;

 

(4)   Đề ra các quy định luật pháp và tổ chức thực hiện việc giải thể, phá sản, sáp nhập công ty để nâng cao chất lượng hoạt động của các công ty bảo hiểm;

 

(5)   Thực hiện nghiêm chỉnh cơ cấu vốn điều lệ quy định tại chương X  Mục1(1.1) thông tư 156/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính như sau:

 

1.1.1. Một cổ đông là cá nhân được sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ; 

 

1.1.2. Một cổ đông là tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ;

 

1.1.3. Cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ;

 

1.1.4. Việc sở hữu cổ phần vượt tỷ lệ nêu trên phải được Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp thuận trên cơ sở lợi ích quốc gia.

 

Thực hiện đúng quy định này sẽ hạn chế được tình trạng các doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm vốn Nhà nước trên 50% và các doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm ngành vốn ngành là chính như đã nêu trên;

 

(6)   Tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu nhân lực có chất lượng cho thị trường bảo hiểm. Cục quản lý giám sát bảo hiểm phối hợp với một số trung tâm đào tạo bảo hiểm của một số công ty bảo hiểm lớn trong nước và nước ngoài thành lập Trường đào tạo bảo hiểm cho toàn ngành bảo hiểm;

 

(7)   Cục quản lý giám sát bảo hiểm hoặc Hiệp hội bảo hiểm thành lập Trung tâm thống kê để cung cấp số liệu cho thị trường làm minh bạch hoạt động bảo hiểm. Việc này cần sự trợ giúp của ngân sách và đóng góp của các công ty bảo hiểm trong chi phí xây dựng vật chất cho Trung tâm;

 

(8)   Tạm ngừng việc cấp phép thành lập thêm công ty bảo hiểm trong thời gian cũng cố này. Đây cũng là ý kiến đề nghị của trường Harvard Kennedy School Hoa kỳ trong Bài thảo luận chính sách số 4 của họ.

2.  Đổi mới hệ thống văn bản pháp lý bảo hiểm trên tinh thần hội nhập WTO với xu hướng văn bản pháp lý của thế giới.

(1) Sửa đổi luật bảo hiểm và các văn bản dưới luật đúng với các yêu cầu của  WTO;

 

(2) Các quy định văn bản phải trên tinh thần giải phóng cho các doanh nghiệp bảo hiểm những quyền không thuộc chức trách quản lý của Nhà nước như phí bảo hiểm tự nguyện, các loại bảo hiểm không do Nhà nước bắt buộc mà do các mối quan hệ khác bắt buộc như bảo hiểm tài sản,  bảo hiểm hành khách. . .  đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau . . . ;

 

(3) Tăng cường các quy định quản lý chặt chẽ về trích lập các quỹ dự trữ, quản lý tài chính, quản lý nợ, đầu tư, biên khả năng thanh toán, các chỉ tiêu về tính an toàn tài chính, các chỉ tiêu về năng suất, hiệu quả . . .;

 

(4) Xem xét lại chuẩn mực về khả năng thanh toán trên tinh thần tham khảo quy định về chuẩn mực khả năng thanh toán II trong giai đoạn hoàn thiện cuối cùng của Liên minh Châu âu;

 

(5) Sửa đổi quy định về kế toán doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cho phù hợp yêu cầu mới. Quy định các chuẩn mực kế toán phi nhân thọ và nghề nghiệp tính phí bảo hiểm vận hành trên cơ sở công nghệ thông tin.

3.  Nâng cao chất lượng quản lý và giám sát của Nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm.

(1) Đề cao kỹ luật báo cáo kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm. Trên cơ sở đó làm tốt công tác thống kê, kế hoạch, dự báo toàn ngành bảo hiểm;

 

(2) Cũng cố bộ phận thanh tra Cục quản lý giám sát bảo hiểm, tăng cường thanh tra xử phạt nhằm đưa hoạt động bảo hiểm vào nề nếp, xóa bỏ hiện tượng cạnh tranh trái pháp luật và các hiện tượng tiêu cực. Kiểm tra tiêu chuẩn doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định để các doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo đủ tiêu chuẩn quy định nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng;

 

(3) Quản lý chặt chẽ công tác đầu tư vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo hiệu suất đầu tư và tính thanh khoản;

 

(4) Kiểm tra việc thực hiện quy định về cơ cấu vốn điều lệ theo quy định tại TT 156/2007/TT-BTC đối với các công ty cổ phần bảo hiểm Nhà nước và các công ty cổ phần bảo hiểm ngành đảm bảo sự lành mạnh và công bằng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm;

 

(5) Thực hiện cơ cấu lại các công ty bảo hiểm bằng cách đình chỉ, sáp nhập, mua lại các công ty không đủ tiêu chuẩn hoặc hoạt động yếu, kết quả kinh doanh lỗ nhiều năm.

4.  Thiết lập các hệ thống dịch vụ đối tác của bảo hiểm nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và tính khách quan của hoạt động bảo hiểm.

(1) Thành lập Hội bảo vệ quyền lợi người được bảo hiểm để giải quyết hòa giải các tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm;

 

(2) Quy định việc sử dụng hệ thống giám định độc lập trong việc giám định các sự cố bảo hiểm;

 

(3) Thành lập các cơ quan giám sát các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc nhằm bảo đảm quyền lợi của người bị hại và đảm bảo các quy định của Nhà nước về bảo hiểm bắt buộc là hợp lý và công bằng;

 

(4) Nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp cho đội ngũ Đại lý bảo hiểm. Tiêu chuẩn hóa đại lý bảo hiểm thông qua công tác đào tạo tập trung như quy định của Cục quản lý giám sát bảo hiểm;

 

(5) Tăng cường sử dụng nguồn lực bên ngoài (outsoursing) tạo tính minh bạch, chất lương dịch vụ và tinh giản tổ chức;

 

5.  Nâng cao vai trò của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và mạnh dạn giao dần cho Hiệp hội thực hiện các dịch vụ hành chính công.

 

(1) Hiệp hội bảo hiểm Việt nam trong thời gian qua đã đóng góp được rất nhiều cho các doanh nghiệp bảo hiểm như: tuyên truyền về bảo hiểm, tư vấn, thẩm định đóng góp ý kiến xây dựng văn bản pháp quy; tổng hợp cung cấp thông tin đánh giá tình hình thị trường BHVN, tổ chức đào tạo tập huấn và hội thảo, xây dựng chế độ hợp tác và tự quản, mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước. . .

 

(2) Nhưng do Hiệp hội không có nguồn tài chính riêng (chủ yếu nhờ sự đóng góp của các  doanh nghiệp bảo hiểm). “ … Để Hiệp hội có tiếng nói khách quan, có thể phát huy vai trò của mình thì cần từng bước tăng thu nhập của Hiệp hội, giảm dần sự đóng góp kinh phí từ các DNBH. Đó chính là giao cho HHBH thực hiện các công việc hành chính công. “ Đây là kiến nghị của ông Phùng Đắc Lộc – Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam;

 

(3) Có thể giao cho Hiệp hội quyền tổ chức kiểm tra cấp chứng chỉ đại lý BH Nhân thọ, Phi nhân thọ và các dịch vụ tư vấn, cung cấp thông tin . . .  có thu tiền để Hiệp hội có điều kiện tạo quỹ hoạt động từ hoạt động của chính mình.

 

 

 Nguyễn nam Cường