Trên cơ sở gợi ý này, tôi có thêm một vài ý kiến
về việc tái cấu trúc thị trường bảo hiểm Việt nam.
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
VIỆT NAM
1. Tăng trưởng mạnh mẽ về lượng.
Tính từ thời điểm Nhà nước chủ trương xóa bỏ độc
quyền về bảo hiểm thông qua Nghị định 100/NĐ-CP năm 1993 đến nay là 16
năm. Chỉ trong 16 năm từ một doanh nghiệp bảo hiểm độc quyền nhà nước
là Bảo Việt, đến nay đã có 49 công ty bảo hiểm gồm: 27 DNBH Phi nhân
thọ, 11 DNBH Nhân thọ, 1 DN Tái bảo hiểm và 10 DN Môi giới bảo hiểm
hơn 120.000 đại lý bảo hiểm, với tổng vốn chủ sở hữu hơn 21.000
tỷ VNĐ.
Xét về hình thức tổ chức cũng rất đa dạng bao gồm:
Công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài,
công ty 100% vốn nước ngoài, triển khai cả hai loại hình bảo hiểm nhân
thọ và phi nhân thọ.
Xét về doanh thu từ vài trăm tỷ năm 1993 lên 21.163 tỷ
VNĐ 2008. Tốc độ phát tiển bình quân toàn thị trường khoảng 30%. Dự
phòng nghiệp vụ: 40.647 tỷ VNĐ, Đầu tư 54.433 tỷ VNĐ ( Số liệu của
Hiệp hội bảo hiểm Việt nam 2008 ).
2. Tăng trưởng về chất.
Đội ngũ nhân viên bảo hiểm từ vài ngàn người đến
nay vài chục ngàn người trong đó một số được đào tạo trong và ngoài
nước và đã trãi qua kinh nghiệm thực tế nhiều năm.
Sản phẩm bảo hiểm cũng được đa dạng hóa từ vài
chục sản phẩm lên hơn 100 sản phẩm. Các quy trình nghiệp vụ, quy
chế quản lý ngày càng được hoàn thiện..
Vụ quản lý bảo hiểm được nâng lên thành Cục quản
lý giám sát bảo hiểm thể hiện sự quan tâm của Nhà nước về công tác
bảo hiểm. Năm 2008 Cục đã chính thức là thành viên của Hiệp hội quốc
tế các nhà quản lý bảo hiểm (IAIS). Hệ thống văn bản quản lý bảo hiểm được sửa đổi,
bổ sung để phù hợp với quy định của WTO như: Nghị định
45/2007/NĐ-CP và Nghị định 46/2007/NĐ-CP và các Thông tư hướng dẫn
155/2007/TT-BTC và Thông tư 156/2007/TT-BTC, 86/2009/TT-BTC . . .
Về cơ cấu tổ chức, các
doanh nghiệp nhà nước như: Bảo việt, Bảo minh, PVIC được chuyển đổi thành công ty cổ
phần bảo hiểm. Bảo việt, Bảo minh đã gọi vốn của các công ty bảo
hiểm lớn của nước ngoài là HSBC và AXA để tăng chất lượng hoạt động
ngang tầm quốc tế.
II. NHỮNG TRỞ NGẠI TRƯỚC NGƯỠNG CỬA WTO.
1. Thiếu hụt nhân lực do tăng trưởng nóng.
Với sự phát triển nhanh số lượng các công ty bảo
hiểm tập trung vào gia đoạn cuối:
TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG SỐ LƯỢNG
CÔNG TY BHPNT TỪ 1994 - 2008
|
NĂM
|
1994
|
1995
|
1996
|
1997
|
1998
|
1999
|
2000
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
2006
|
2007
|
2008
|
|
C.TY
|
2
|
4
|
6
|
7
|
8
|
8
|
8
|
9
|
11
|
12
|
12
|
15
|
20
|
21
|
27
|
Qua số liệu trên ta thấy số công ty bảo hiểm tăng
nhanh vào năm 2006: 5 công ty, 2008: 6 công ty.
Sự tăng nhanh số lượng công ty vào giai đoạn cuối dẫn
đến hiện tượng thiếu nhân lực có kỹ năng. Hầu hết các lãnh
đạo chủ chốt và các nhân viên bảo hiểm của các đơn vị mới
thành lập chưa có đầy đủ kinh nghiệm điều hành một công ty bảo hiểm
độc lập. Tình trạng di chuyển nhân sự giữa công ty cũ và công ty mới
làm náo động thị trường. Việc đào tạo bổ sung cho nhân lực mới
ít được chú ý vì sức ép doanh thu đối với các đơn vị mới thành
lập. Ít công ty có chiến lược kinh doanh dài hạn mà chủ yếu tập
trung vào ngắn hạn. Hơn nữa do thị trường bảo hiểm Việt nam đã trưởng
thành nhiều sau 15 năm nên sự trợ giúp không tính tiền của các công ty
bảo hiểm và chính phủ nước ngoài không còn như những năm đầu.
Hiện tượng cạnh tranh không đúng luật phát triển
mạnh như: không điều tra rủi ro, giảm phí, tăng hoa hồng, Khuyến mãi,
mở rộng điều khoản . . . mà Cục quản lý giám sát bảo hiểm, Hiệp
hội bảo hiểm đã phê phán và nhận xét của dư luận thị trường qua
báo chí, bài viết.
Hiện tượng hầu hết các đơn vị bảo hiểm lỗ kinh
doanh nghiệp vụ và 5 công ty lỗ toàn diện năm 2008 được nêu lên trong
tạp chí Bảo hiểm Việt nam 2009 là kết quả của quá trình này.
2. Đổi mới cơ cấu tổ chức bảo hiểm nhưng không
hoàn chỉnh.
Năm 2004 chính phủ chủ trương chuyển các công ty bảo
hiểm nhà nước như: Bảo Việt, Bảo Minh, PVIC . . . thành công ty cổ
phần. Đây là một chủ trương đúng để tăng thêm vốn và tính tự quản,
tự chịu trách nhiệm của các công ty này. Tuy nhiên việc thực hiện
vội vàng và không hoàn chỉnh.
Hầu hết các công ty bảo hiểm nhà nước do được ưu
đãi nên trong thời gian hoạt động đã tích lũy nhiều tài sản cố định
( chủ yếu là các trụ sở làm việc ) với giá rẽ nhưng không được đánh
giá lại đúng giá thị trường để đưa vào cổ phần hóa đã làm thiệt
thòi phần vốn nhà nước.
Mặt khác tính đến nay cổ phần nhà nước vẫn chiếm
chủ yếu trong các công ty này, nên bản chất ưu việt của công ty cổ
phần không được phát huy. Với đặc tính như trên việc điều hành các
công ty cổ phần này còn nhiều vướng mắc. Vấn đề được nêu ra là: Vai
trò giữa cổ đông nhà nước và các cổ đông khác như thế nào là hợp
lý? Vai trò tự quản của các công ty này có như các công ty cổ phần
tư nhân? Lãnh đạo các công ty này là công chức nhà nước hay là doanh
nhân thông thường?
Vừa qua báo chí phản ảnh vấn đề lương của các lãnh
đạo tổng công ty SCIC và các tổng công ty, tập đoàn kinh doanh Nhà
nước với sự chênh lệch quá lớn giữa các tập đoàn, tổng công ty (
chênh lệch lương đến 10 lần ) thấy rõ sự không thống nhất về cách
trả lương. Điều này cũng có thể xảy ra ở các công ty cổ phần bảo hiểm
mà vốn nhà nước là chính.
3. Việc hình thành các công ty cổ phần bảo
hiểm ngành.
Xu hướng thành lập các công ty bảo hiểm ngành đang
nở rộ thời gian gần đây. Trong bài " Thị trường bảo hiểm lợi
thế sân nhà " của tác giả Vũ Sơn đã nêu những công ty bảo hiểm
có lợi thế sân nhà như: Công ty bảo hiểm SHB - Vinacomin (SVIC) cổ đông
chính là tập đoàn than khoán sản; Công ty bảo hiểm quân đội (MIC),
Công ty bảo hiểm Bưu điện (PTI); Công ty bảo hiểm dầu khí ( PVIC); Công
ty bảo hiểm hàng không . . . Nhờ lợi thế sân nhà nên các công ty này
đã có kết quả doanh thu tốt hơn so với thị trường.
Nghị định 100/1993/NĐ/CP ra đời nhằm xóa bỏ độc
quyền trong bảo hiểm. Nhờ chủ trương này với sự cạnh tranh của giữa
công ty bảo hiểm Bảo Việt và Bảo Minh về bảo hiểm hàng không đã
tiết liệm cho Hàng không Việt nam 2.529.000 USD tiền phí bảo hiểm trong
3 năm từ 1995 đến 1997. Thực chất có kết quả tiết kiệm này là do
chúng ta đã chuyển sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trong nước
thành sự cạnh tranh giữa các nhóm tái bảo hiểm nước ngoài. Trong
hoạt động bảo hiểm ai cũng biết rằng đối với những dịch vụ có giá
trị lớn như: hàng không, dầu khí, vệ tinh . . . điều khoản và phí do
các nhà tái bào hiểm bên ngoài quyết định vì họ nhận trách nhiệm
từ 95 đến 99%. Do vậy nếu chúng ta tạo sự độc quyền trong nước cũng
có nghĩa là tạo sự độc quyền ở nước ngoài.
Chính vì lý do này NĐ.45/2007/NĐ-CP tại Điều 3, Mục 2 có quy
định: " . . . Không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp
trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm của bên mua bảo hiểm. ".
TT.86/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ
sung một số điểm của Thông tư số 155/2007/TT-BTC tại Mục 10 nhấn mạnh:
" Nghiêm cấm việc doanh nghiệp bảo hiểm tranh thủ uy tín,
ảnh hưởng và chỉ đạo dưới mọi hình thức của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan
chủ quản cấp trên và chủ góp vốn đầu tư để cung cấp dịch vụ bảo hiểm, làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm".
4.
Chất lượng quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm.
Thời gian vừa
qua Nhà nước đã chú ý nhiều đến việc nâng cao chất lượng quản lý
ngành bảo hiểm đã được nhiều người, nhiều tổ chức nhận xét và đã
được nêu ở trên. Tuy nhiên so với yêu cầu hội nhập WTO còn nhiều việc
phải làm. Điều này cũng đã được nhiều người, nhiều tổ chức nói
tới, xin tóm tắt như sau:
(1)
Một số quy định pháp luật đặt ra chưa phù hợp thực tế hoặc
không ai thực hiện làm giảm tính thượng tôn pháp luật.
Thí dụ 1: Quyết định
153/2003/QĐ-BTC ngày 22 tháng 09 năm 2003 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu
giám sát doanh nghiệp bảo hiểm Điều 3 quy định: " Các doanh nghiệp bảo
hiểm có trách nhiệm tính toán các chỉ tiêu giám sát và gửi kết quả cho Bộ Tài
chính vào thời điểm nộp báo cáo tài chính hàng năm theo quy định hiện hành. . .
" và Điều 4 quy định: " Vụ Bảo hiểm có trách nhiệm phân tích, đánh
giá kết quả hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm thông qua Hệ thống chỉ tiêu
giám sát doanh nghiệp bảo hiểm và tiến hành các biện pháp kiểm tra, giám sát theo
quy định của pháp luật. ", nhưng đến nay không ai thực hiện theo hệ
thống chỉ tiêu này kể cà Vụ bảo hiềm ( nay là Cục quàn lý giám
sát bảo hiêm ).
Thí dụ 2: Trên cơ sở tình hình thực tế năm 2008 các doanh
nghiệp bảo hiểm đua nhau giảm phí, khuyến mãi sản phẩm bảo hiểm
trách nhiệm dân sự bắt buộc chủ xe cơ giới làm rối loạn thị trướng,
Bộ Tài chính có chỉ thị cấm các công ty bảo hiểm khuyến mãi, chi
phí ngoài hoa hồng Bộ Tài chính quy định về bảo hiểm bắt buộc
trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, nhưng thực tế có nhiều nơi vẫn
tiếp tục khuyến mãi tặng nón, tăng hoa hồng mà không ai bị phạt.
(2) Quy đinh về kế
toán bảo hiểm hiện không còn phù hợp với sự phát triển của bảo
hiểm. Điều này được nhiều tác giả đề cập trong tạp chí Bảo hiểm
Việt nam 2009.
Nhiều vân đề hạch toán cần được quy định cụ thể như:
§ Trích
dự phòng phí cho đối tượng bảo hiểm mà giá trị bảo hiểm tăng dần
theo thời gian như bảo hiểm công trình xây dựng, lắp đặt;
§ Hạch
toán lợi nhuận kinh doanh theo từng nghiệp vụ toàn công ty và lợi
nhuận quy ước theo từng đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc . . . ;
§ Quản
lý nợ: Quy định thế nào là nợ quá hạn, nợ khó đòi và nợ không
đòi được để có cơ sở tính biên khả năng thanh toán;
§ .
. .
(3) Chất lượng báo cáo tài
chính chưa cao và thiếu minh bạch.
Hầu hết báo cáo kết quả kinh doanh và tài chính của các doanh
nghiệp bảo hiểm không chú ý đến các chỉ tiêu chất lượng như: Tỷ số
thanh toán nhanh, Tỷ số chiếm dụng vốn, Tỷ số nợ, Tỷ suất đầu tư
chung, Tỷ suất đầu tư tài sản cố định, Tỷ suất đầu tư dài hạn trong hạn, Tỷ
suất khả năng trả nợ, Tỷ số hoa hồng khai thác, Tỷ lệ chi quản lý, Tỷ số
chi trực tiếp kinh doanh, Tỷ số chi bồi thường gộp, Tỷ số bồi thường thuần,
Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu, Tỷ suất lợi nhuận thuần
trên tài sản (ROA), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE) . . .. Hầu hết các
công ty không thực hiện hệ thống chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm theo
quy định của Bộ Tài chính.
Số liệu báo cáo, thống kê về bảo hiểm không cập nhật, không
đầy đủ, kể cả số liệu từ Cục quản lý giám sát bảo hiểm và Hiệp
hội bảo hiểm. Do vậy rất khó phân tích đúng thực trạng của hoạt
động bảo hiểm. Số liệu bảo hiểm cũng thiếu tính công khai, minh
bạch. Thậm chí đã là các công ty bảo hiểm đại chúng, công ty niêm
yết nhưng không có báo cáo đầy đủ tình hình kinh doanh của công ty
trên website của mình mà đây là điều bắt buộc đối với các công ty
này.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG PHI NHÂN THỌ
VIỆT NAM
Trên cơ sở những phân tích trên,
chúng ta có thể nêu lên một số giải pháp để phát triển thị trường
phi nhân thọ Việt nam như sau:
1. Tổ chức lại
hệ thống các doanh nghiệp bảo hiểm qua các biện pháp:
(1)
Quy định rõ tiêu chuẩn năng lực nhân sự của doanh nghiệp bảo
hiểm. Những doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn phải bổ sung hoặc tạm
đình chỉ hoạt động;
(2)
Quy định tiêu chuẩn tối thiểu để được thành lập công ty bảo
hiểm trong đó bao gồm vốn pháp định, tiêu chuẩn đến lãnh đạo cấp
phòng, chi nhánh, tiêu chuẩn về trang bị công nghệ thông tin . . ;
(3)
Cho gia hạn các công ty chưa đủ vốn pháp định, chưa đủ tiêu
chuẩn quy định và tạm đình chỉ hoạt động nếu hết hạn gia hạn mà
vẫn chưa đáp ứng yêu cầu;
(4)
Đề ra các quy định luật pháp và tổ chức thực hiện việc giải
thể, phá sản, sáp nhập công ty để nâng cao chất lượng hoạt động của
các công ty bảo hiểm;
(5)
Thực hiện nghiêm chỉnh cơ cấu vốn điều lệ quy định tại chương
X Mục1(1.1) thông tư 156/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính như sau:
1.1.1. Một cổ
đông là cá nhân được sở hữu tối đa 10% vốn điều lệ;
1.1.2. Một cổ
đông là tổ chức được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ;
1.1.3. Cổ đông
và những người có liên quan của cổ đông đó được sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ;
1.1.4. Việc sở
hữu cổ phần vượt tỷ lệ nêu trên phải được Bộ trưởng Bộ Tài chính chấp thuận
trên cơ sở lợi ích quốc gia.
Thực hiện đúng quy định này sẽ
hạn chế được tình trạng các doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm vốn Nhà
nước trên 50% và các doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm ngành vốn ngành
là chính như đã nêu trên;
(6)
Tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ, đảm bảo đáp ứng được
nhu cầu nhân lực có chất lượng cho thị trường bảo hiểm. Cục quản lý
giám sát bảo hiểm phối hợp với một số trung tâm đào tạo bảo hiểm
của một số công ty bảo hiểm lớn trong nước và nước ngoài thành lập
Trường đào tạo bảo hiểm cho toàn ngành bảo hiểm;
(7)
Cục quản lý giám sát bảo hiểm hoặc Hiệp hội bảo hiểm thành
lập Trung tâm thống kê để cung cấp số liệu cho thị trường làm minh
bạch hoạt động bảo hiểm. Việc này cần sự trợ giúp của ngân sách
và đóng góp của các công ty bảo hiểm trong chi phí xây dựng vật chất
cho Trung tâm;
(8)
Tạm ngừng việc cấp phép thành lập thêm công ty bảo hiểm trong
thời gian cũng cố này. Đây cũng là ý kiến đề nghị của trường
Harvard Kennedy School Hoa kỳ trong Bài thảo luận chính sách số 4 của
họ.
2. Đổi mới
hệ thống văn bản pháp lý bảo hiểm trên tinh thần hội nhập WTO với xu
hướng văn bản pháp lý của thế giới.
(1) Sửa đổi luật
bảo hiểm và các văn bản dưới luật đúng với các yêu cầu của
WTO;
(2) Các quy định
văn bản phải trên tinh thần giải phóng cho các doanh nghiệp bảo hiểm
những quyền không thuộc chức trách quản lý của Nhà nước như phí bảo
hiểm tự nguyện, các loại bảo hiểm không do Nhà nước bắt buộc mà do
các mối quan hệ khác bắt buộc như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm
hành khách. . . đảm bảo sự bình đẳng giữa các loại hình doanh
nghiệp bảo hiểm khác nhau . . . ;
(3) Tăng cường các
quy định quản lý chặt chẽ về trích lập các quỹ dự trữ, quản lý
tài chính, quản lý nợ, đầu tư, biên khả năng thanh toán, các chỉ tiêu
về tính an toàn tài chính, các chỉ tiêu về năng suất, hiệu quả . . .;
(4) Xem xét lại
chuẩn mực về khả năng thanh toán trên tinh thần tham khảo quy định về
chuẩn mực khả năng thanh toán II trong giai đoạn hoàn thiện cuối cùng
của Liên minh Châu âu;
(5) Sửa đổi quy
định về kế toán doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cho phù hợp yêu
cầu mới. Quy định các chuẩn mực kế toán phi nhân thọ và nghề nghiệp
tính phí bảo hiểm vận hành trên cơ sở công nghệ thông tin.
3. Nâng cao
chất lượng quản lý và giám sát của Nhà nước đối với hoạt động
bảo hiểm.
(1) Đề cao kỹ luật
báo cáo kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm. Trên
cơ sở đó làm tốt công tác thống kê, kế hoạch, dự báo toàn ngành
bảo hiểm;
(2) Cũng cố bộ
phận thanh tra Cục quản lý giám sát bảo hiểm, tăng cường thanh tra xử
phạt nhằm đưa hoạt động bảo hiểm vào nề nếp, xóa bỏ hiện tượng
cạnh tranh trái pháp luật và các hiện tượng tiêu cực. Kiểm tra tiêu
chuẩn doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định để các doanh nghiệp bảo
hiểm đảm bảo đủ tiêu chuẩn quy định nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ
khách hàng;
(3) Quản lý chặt
chẽ công tác đầu tư vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp bảo hiểm đảm
bảo hiệu suất đầu tư và tính thanh khoản;
(4) Kiểm tra việc
thực hiện quy định về cơ cấu vốn điều lệ theo quy định tại TT
156/2007/TT-BTC đối với các công ty cổ phần bảo hiểm Nhà nước và các
công ty cổ phần bảo hiểm ngành đảm bảo sự lành mạnh và công bằng
giữa các doanh nghiệp bảo hiểm;
(5) Thực hiện cơ
cấu lại các công ty bảo hiểm bằng cách đình chỉ, sáp nhập, mua lại
các công ty không đủ tiêu chuẩn hoặc hoạt động yếu, kết quả kinh doanh
lỗ nhiều năm.
4. Thiết
lập các hệ thống dịch vụ đối tác của bảo hiểm nhằm nâng cao chất
lượng dịch vụ và tính khách quan của hoạt động bảo hiểm.
(1) Thành lập Hội
bảo vệ quyền lợi người được bảo hiểm để giải quyết hòa giải các
tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm;
(2) Quy định việc
sử dụng hệ thống giám định độc lập trong việc giám định các sự cố
bảo hiểm;
(3) Thành lập các
cơ quan giám sát các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc nhằm bảo đảm quyền
lợi của người bị hại và đảm bảo các quy định của Nhà nước về bảo
hiểm bắt buộc là hợp lý và công bằng;
(4) Nâng cao năng
lực và tính chuyên nghiệp cho đội ngũ Đại lý bảo hiểm. Tiêu chuẩn
hóa đại lý bảo hiểm thông qua công tác đào tạo tập trung như quy định
của Cục quản lý giám sát bảo hiểm;
(5) Tăng cường sử
dụng nguồn lực bên ngoài (outsoursing) tạo tính minh bạch, chất lương
dịch vụ và tinh giản tổ chức;
5. Nâng cao vai trò của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
và mạnh dạn giao dần cho Hiệp hội thực hiện các dịch vụ hành chính công.
(1) Hiệp hội bảo hiểm Việt nam trong thời gian qua đã đóng góp
được rất nhiều cho các doanh nghiệp bảo hiểm như: tuyên truyền về bảo
hiểm, tư vấn, thẩm định đóng góp ý kiến xây dựng văn bản pháp quy; tổng hợp
cung cấp thông tin đánh giá tình hình thị trường BHVN, tổ chức đào tạo tập huấn
và hội thảo, xây dựng chế độ hợp tác và tự quản, mở rộng mối quan hệ hợp tác
với các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước. . .
(2) Nhưng do Hiệp hội không có nguồn tài chính riêng
(chủ yếu nhờ sự đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm). “ …
Để Hiệp hội có tiếng nói khách quan, có thể phát huy vai trò của mình thì
cần từng bước tăng thu nhập của Hiệp hội, giảm dần sự đóng góp kinh phí từ
các DNBH. Đó chính là giao cho HHBH thực hiện các công việc hành chính công. “
Đây là kiến nghị của ông Phùng Đắc Lộc – Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt
Nam;
(3) Có thể giao cho Hiệp hội quyền tổ chức kiểm tra cấp
chứng chỉ đại lý BH Nhân thọ, Phi nhân thọ và các dịch vụ tư vấn, cung
cấp thông tin . . . có thu tiền để Hiệp hội có điều kiện tạo
quỹ hoạt động từ hoạt động của chính mình.
Nguyễn nam Cường