Ông có thể nói rõ về những bất cập của DN bảo hiểm hiện chưa được
giải quyết?
Ngành bảo hiểm là ngành kinh doanh đặc thù có
chu trình tính chi phí ngược, tức thu trước chi phí sau. Bộ Tài chính cũng đã
ban hành chế độ hạch toán kế toán riêng cho DN này và đã có nhiều sự thay đổi,
nhưng với bối cảnh hội nhập hiện nay thì những thay đổi đó chưa đáp ứng được nhu
cầu. Đặc biệt, là những vấn đề liên quan tới doanh nghiệp nước ngoài như: báo
cáo kế toán, thưởng thu phí, thưởng không khiếu nại hay giảm phí cho những đối
tượng nhiều năm tham gia bảo hiểm…ở nước ngoài khi bảo hiểm vài năm mà không có
tổn thất thì người ta thường nghĩ tới thưởng cho những doanh nghiệp này, vì họ
tạo ra lợi ích, nên họ được phép thưởng. Còn ở Việt Nam hiện nay, theo Thông tư
số 155 /2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định 45/2007 quy
định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm không cho phép làm như
thế, và đây là một trong những bất cập lớn mà các DN bảo hiểm đang gặp phải khi
cần đưa ra một chế độ kế toán thống nhất.
Vấn đề này hiện đang
được Bộ Tài chính nghiên cứu: trong đó có cách làm theo chuẩn mực số 19 của
chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Còn đối với các DNBH thì vấn đề ở đây là phải có quyết tâm cao, phải đồng
lòng. Chúng tôi đã hỏi ý kiến của cac doanh nghiệp thì tất cả 39 doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ, phi nhân thọ ở VN đều đồng ý là sẽ có quyết tâm cao.
* Với trình độ hiện có, liệu các DNBHVN
có đáp ứng được những quy định của chuẩn mực số 19? Nếu có thì theo ông có bao
nhiêu DN đáp ứng đủ chuẩn mực này?
Mặc dù
chuẩn mực số 19 đòi hỏi rất cao và chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng tôi
tin rằng: với trình độ của kế toán Việt Nam
hiện nay (cả chuyên môn và trình độ ngoại ngữ), cộng với việc chủ động hoàn
thiện, các DN sẽ dần đạt tiêu chuẩn. Chúng tôi chưa có thống kê cụ thể là có bao nhiêu DN đáp ứng được yêu cầu
này. Còn riêng tôi thì tôi cho rằng việc áp dụng chuẩn mực kế toán 19 rất khả
thi nhưng còn vướng là phải giải quyết chê độ kế toán chung của toàn quốc.
* Thế nhưng nếu áp dụng chuẩn mực số 19 thì liệu có
còn hiện tượng xuất toán không, thưa ông?
Xuất toán nói chung
cái gì chả có, kể cả chuẩn mực nào cũng thế thôi. Cứ sai chuẩn mực là xuất
toán, nhưng vấn đề là xuất toán đó đúng hay sai. Để đánh giá xem cái này có
đúng là đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm hay không thì cần nhớ
là đối với ngành BH thì toàn bộ chu trình tính toán ngược so với các hình thức kinh
doanh khác bởi đầu tiên ngành phải thu phí BH rồi mới bồi thường sau. Khi doanh
nghiệp BH đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì chưa mất một chi phí gì cả
bởi chi phí này hình thành sau, mà chi phí hình thành trước dễ kiểm soát, chi
phí sau khó kiểm soát hơn nhiều.
*Ông nghĩ thế nào về môi trường kinh doanh bảo hiểm ở
VN?
Về tiềm năng thì rất lớn, hứa hẹn có rất nhiều khoản trống
bảo hiểm chưa khai thác được, ví dụ như là toàn bộ thị trường nông nghiệp, nông
thôn, toàn bộ thị trường tư nhân, nhà ở cá nhân, tài sản cá nhân chưa được khai
thác hết. Và còn toàn bộ công trình của các tổ chức cơ quan chính quyền địa
phương hoạt động và sử dụng bằng NSNN cũng chưa khai thác bởi vì họ chưa có
ngân sách cấp để tham gia bảo hiểm nhưng khi mà xảy ra tổn thất lại sử dụng
ngân sách để mà sửa chữa. Rõ ràng là đầu tư càng phát triển thì nhu cầu bảo
hiểm càng cao lên. Tôi còn thấy có những công trình mà các nhà đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam tiến hành, những công trình này ngày càng đòi hỏi kỹ thuật
cao như xây dựng đường tàu ngầm, hàng không,.., từ đó có thể thấy tiềm năng rất
lớn nhưng cạnh tranh thì cũng rất gay gắt bởi không đơn thuần là 27 doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ VN cạnh tranh với nhau mà là cuộc cạnh tranh của
350 chi nhánh của các DNBH hoạt động như là 350 công ty con.
* Những thách thức nào là cơ bản nhất của DNBH trong
quá trình hội nhập, thưa ông?
Tôi cho rằng trước hết đó thách thức về trình độ công nghệ
thông tin. Việc tìm ra một công nghệ thông tin hoàn chỉnh phục vụ cho quá trình
khai thác và quản lý bảo hiểm là khó. Các doanh nghiệp tự mày mò để đi đến đáp
số thì vất vả rất nhiều, nếu có CNTT thì rất nhanh, bởi nó giúp nạp số liệu
khai thác, quản lý khách hàng, quản lý rủi ro, quản lý đối tượng bảo hiểm thậm
chí hạch toán kế toán rất nhanh và chính xác, thuận lợi; thứ 2 nữa là khâu bồi
thường được giải quyết rất tốt, bởi anh không phải đối chiếu gì ra chỉ cần bật
ra kiểm tra là biết vì tất cả thông tin đã được nhập vào máy rồi. Nếu làm thủ
công lôi tát cả các giấy tờ ra thì mất rất nhiều thời gian, do đó tôi cho đây
là thách thức lớn nhất.
* Phía hiệp hội có giải pháp như thế nào để giúp
doanh nghiệp?
Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ nên quản lý các DNBH theo
hệ thống CNTT nhưđối với hệ thống ngân hàng, bởi các ngân hàng đều được NHNN quản
lý tất cả số liệu cho vay bằng hệ thống CNTT. Tôi rất tiếc là trong hệ thống
các dịch vụ tài chính thì ngân hàng, chứng khoán, xổ số kiến thiết và nhiều
lĩnh vực khác đều được nhà nước đầu tư rất nhiều kể cả đào tạo nguồn nhân lực,
trang bị cơ sở vật chất, trang bị phần mềm nhưng DNBH thì chưa được đầu tư của
nhà nước trong hệ thống đào tạo, trong CNTT để giúp sức cho các doanh nghiệp
phát triển. Lợi ích thì là lợi ích chung của toàn thị trường chứ không phải của
riêng doanh nghiệp nào cả, mà để một doanh nghiệp đi đầu thì khó, họ không dại
gì đi đầu trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này mà chỉ hoàn thiện từng bước một
thôi, để tránh rủi ro, cho nên cứ “dàn hàng ngang” thì với họ là an toàn hơn,
mặc dù chậm. Nếu đi tắt đón đầu trong ngành bảo hiểm thì mình phải tạo ra hệ
thống CNTT chuẩn cho các DNBH, sau đó các DNBH mua phần mềm, đấy là tốt nhất,
giống như chúng ta đi tắt trong ngành bưu chính viến thông. Muốn có được thành
công này thì phải có sự hỗ trợ của nhà nước, một mình DNBH không làm được.
* Xin cảm ơn ông.
Sông Trà - Thời báo Tài chính Việt Nam (thực hiện)