Quan điểm của bạn về Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới?
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Các doanh nghiệp hội viên
Dành cho quảng cáo
Thứ bảy, ngày 04/02/2012
Diễn đàn pháp luật
Bài 3: Ngành Bảo hiểm Việt Nam cần có một chế độ kế toán chuẩn mực quốc tế
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 st1\:*{behavior:url(#ieooui) } /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin:0in; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;}

Cách đây không lâu, trong một hội thảo về những thách thức lớn đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập, ông Phùng Đắc Lộc - Tổng Thư ký HHBHVN đã cho biết: mặc dù kinh tế phát triển chậm, song 6 tháng đầu năm 2009, ngành bảo hiểm vẫn có bước phát triển mạnh mẽ, trong đó bảo hiểm phi nhân thọ đạt tốc độ tăng trưởng 15,7%, bảo hiểm nhân thọ 8,7%. Điều này cho thấy, tốc độ tăng trưởng của bảo hiểm là rất tốt và theo một số nhà nghiên cứu thị trường bảo hiểm thì tốc độ tăng trưởng bảo hiểm ở Việt Nam sẽ đạt tới 25%/năm vào năm 2013. Tuy nhiên, ông cũng cho biết, có một số chuẩn mực kế toán hiện hành ở Việt Nam hiện không còn phù hợp với thị trường bảo hiểm.


Ông có thể nói rõ về những bất cập của DN bảo hiểm hiện chưa được giải quyết?

 

Ngành bảo hiểm là ngành kinh doanh đặc thù có chu trình tính chi phí ngược, tức thu trước chi phí sau. Bộ Tài chính cũng đã ban hành chế độ hạch toán kế toán riêng cho DN này và đã có nhiều sự thay đổi, nhưng với bối cảnh hội nhập hiện nay thì những thay đổi đó chưa đáp ứng được nhu cầu. Đặc biệt, là những vấn đề liên quan tới doanh nghiệp nước ngoài như: báo cáo kế toán, thưởng thu phí, thưởng không khiếu nại hay giảm phí cho những đối tượng nhiều năm tham gia bảo hiểm…ở nước ngoài khi bảo hiểm vài năm mà không có tổn thất thì người ta thường nghĩ tới thưởng cho những doanh nghiệp này, vì họ tạo ra lợi ích, nên họ được phép thưởng. Còn ở Việt Nam hiện nay, theo Thông tư số 155 /2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định 45/2007 quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm không cho phép làm như thế, và đây là một trong những bất cập lớn mà các DN bảo hiểm đang gặp phải khi cần đưa ra một chế độ kế toán thống nhất.


Vấn đề này hiện đang được Bộ Tài chính nghiên cứu: trong đó có cách làm theo chuẩn mực số 19 của chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Còn đối với các DNBH thì vấn đề ở đây là phải có quyết tâm cao, phải đồng  lòng. Chúng tôi đã hỏi ý kiến của cac doanh nghiệp thì tất cả 39 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ ở VN đều đồng ý là sẽ có quyết tâm cao.

 

* Với trình độ hiện có, liệu các DNBHVN có đáp ứng được những quy định của chuẩn mực số 19? Nếu có thì theo ông có bao nhiêu DN đáp ứng đủ chuẩn mực này?

 

 Mặc dù chuẩn mực số 19 đòi hỏi rất cao và chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng tôi tin rằng: với trình độ của kế toán Việt Nam hiện nay (cả chuyên môn và trình độ ngoại ngữ), cộng với việc chủ động hoàn thiện, các DN sẽ dần đạt tiêu chuẩn. Chúng tôi chưa có thống kê cụ thể là có bao nhiêu DN đáp ứng được yêu cầu này. Còn riêng tôi thì tôi cho rằng việc áp dụng chuẩn mực kế toán 19 rất khả thi nhưng còn vướng là phải giải quyết chê độ kế toán chung của toàn quốc.

 

* Thế nhưng nếu áp dụng chuẩn mực số 19 thì liệu có còn hiện tượng xuất toán không, thưa ông?

 

 Xuất toán nói chung cái gì chả có, kể cả chuẩn mực nào cũng thế thôi. Cứ sai chuẩn mực là xuất toán, nhưng vấn đề là xuất toán đó đúng hay sai. Để đánh giá xem cái này có đúng là đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm hay không  thì cần nhớ là đối với ngành BH thì toàn bộ chu trình tính toán ngược so với các hình thức kinh doanh khác bởi đầu tiên ngành phải thu phí BH rồi mới bồi thường sau. Khi doanh nghiệp BH đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì chưa mất một chi phí gì cả bởi chi phí này hình thành sau, mà chi phí hình thành trước dễ kiểm soát, chi phí sau khó kiểm soát hơn nhiều.

 

*Ông nghĩ thế nào về môi trường kinh doanh bảo hiểm ở VN?

 

Về tiềm năng thì rất lớn, hứa hẹn có rất nhiều khoản trống bảo hiểm chưa khai thác được, ví dụ như là toàn bộ thị trường nông nghiệp, nông thôn, toàn bộ thị trường tư nhân, nhà ở cá nhân, tài sản cá nhân chưa được khai thác hết. Và còn toàn bộ công trình của các tổ chức cơ quan chính quyền địa phương hoạt động và sử dụng bằng NSNN cũng chưa khai thác bởi vì họ chưa có ngân sách cấp để tham gia bảo hiểm nhưng khi mà xảy ra tổn thất lại sử dụng ngân sách để mà sửa chữa. Rõ ràng là đầu tư càng phát triển thì nhu cầu bảo hiểm càng cao lên. Tôi còn thấy có những công trình mà các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiến hành, những công trình này ngày càng đòi hỏi kỹ thuật cao như xây dựng đường tàu ngầm, hàng không,.., từ đó có thể thấy tiềm năng rất lớn nhưng cạnh tranh thì cũng rất gay gắt bởi không đơn thuần là 27 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ VN cạnh tranh với nhau mà là cuộc cạnh tranh của 350 chi nhánh của các DNBH  hoạt động như là 350 công ty con.

 

* Những thách thức nào là cơ bản nhất của DNBH trong quá trình hội nhập, thưa ông?

 

Tôi cho rằng trước hết đó thách thức về trình độ công nghệ thông tin. Việc tìm ra một công nghệ thông tin hoàn chỉnh phục vụ cho quá trình khai thác và quản lý bảo hiểm là khó. Các doanh nghiệp tự mày mò để đi đến đáp số thì vất vả rất nhiều, nếu có CNTT thì rất nhanh, bởi nó giúp nạp số liệu khai thác, quản lý khách hàng, quản lý rủi ro, quản lý đối tượng bảo hiểm thậm chí hạch toán kế toán rất nhanh và chính xác, thuận lợi; thứ 2 nữa là khâu bồi thường được giải quyết rất tốt, bởi anh không phải đối chiếu gì ra chỉ cần bật ra kiểm tra là biết vì tất cả thông tin đã được nhập vào máy rồi. Nếu làm thủ công lôi tát cả các giấy tờ ra thì mất rất nhiều thời gian, do đó tôi cho đây là thách thức lớn nhất.

 

* Phía hiệp hội có giải pháp như thế nào để giúp doanh nghiệp?

 

Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ nên quản lý các DNBH theo hệ thống CNTT nhưđối với hệ thống ngân hàng, bởi các ngân hàng đều được NHNN quản lý tất cả số liệu cho vay bằng hệ thống CNTT. Tôi rất tiếc là trong hệ thống các dịch vụ tài chính thì ngân hàng, chứng khoán, xổ số kiến thiết và nhiều lĩnh vực khác đều được nhà nước đầu tư rất nhiều kể cả đào tạo nguồn nhân lực, trang bị cơ sở vật chất, trang bị phần mềm nhưng DNBH thì chưa được đầu tư của nhà nước trong hệ thống đào tạo, trong CNTT để giúp sức cho các doanh nghiệp phát triển. Lợi ích thì là lợi ích chung của toàn thị trường chứ không phải của riêng doanh nghiệp nào cả, mà để một doanh nghiệp đi đầu thì khó, họ không dại gì đi đầu trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt này mà chỉ hoàn thiện từng bước một thôi, để tránh rủi ro, cho nên cứ “dàn hàng ngang” thì với họ là an toàn hơn, mặc dù chậm. Nếu đi tắt đón đầu trong ngành bảo hiểm thì mình phải tạo ra hệ thống CNTT chuẩn cho các DNBH, sau đó các DNBH mua phần mềm, đấy là tốt nhất, giống như chúng ta đi tắt trong ngành bưu chính viến thông. Muốn có được thành công này thì phải có sự hỗ trợ của nhà nước, một mình DNBH không làm được.


* Xin cảm ơn ông.

 

                    Sông Trà - Thời báo Tài chính Việt Nam (thực hiện)