Theo đánh
giá về thị trường bảo hiểm của Cục Quản lý – Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính),
điều đầu tiên cần ghi nhận là Việt Nam đã phát triển được
một thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, hiệu quả, duy trì được tốc độ tăng
trưởng cao: tỷ trọng doanh thu ngành bảo hiểm so với GDP tăng từ 1,74%/GDP (năm
2006) lên 2,31%/GDP (năm 2008); thị trường phát triển
an toàn, không xảy ra vụ việc vi phạm nghiêm trọng nào trong hoạt động kinh
doanh, không có những tổn thất mang tính thảm hoạ hoặc rủi ro bất thường ảnh
hưởng đến thị trường. Tổng doanh thu ngành bảo hiểm giai
đoạn 2006-2008 đã đạt mức tăng trưởng bình quân 21,15%/năm, cao hơn nhiều so
với tốc độ tăng trưởng GDP, trong đó doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng 15,44%,
doanh thu hoạt động đầu tư tăng 57%. Tương ứng với số tuyệt đối, trong giai
đoạn 2006-2008, tổng doanh thu ngành bảo hiểm tăng từ 18.376 tỷ đồng lên 27.668
tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm tăng từ 14.898 tỷ đồng lên 21.253 tỷ đồng và
doanh thu đầu tư tăng từ 3.478 tỷ đồng lên 6.799 tỷ đồng.
Riêng
năm 2008, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt
21.253 tỷ đồng (tăng 20% so với năm 2007) trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi
nhân thọ đạt 10.950 tỷ đồng (tăng 33,3% so với năm 2007), doanh thu phí
bảo hiểm nhân thọ đạt 10.303 tỷ đồng (tăng 9,1% so với năm 2007). Tổng số tiền
đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 52.409 tỷ đồng (tăng 38 % so với năm 2007) trong
khi doanh thu từ hoạt động đầu tư đạt 6.799 tỷ đồng (tăng 2,6% so với năm
2007). Tổng số quyền lợi bảo hiểm chi trả là 9.146 tỷ
đồng (tăng 43,5% so với năm 2007), trong đó số tiền bồi thường bảo hiểm gốc
trong phi nhân thọ là 4.537 tỷ
đồng (tăng 49,6%), tổng số quyền lợi bảo hiểm nhân thọ chi
trả là 4.609 tỷ đồng (tăng 38%).
Cũng trong
năm 2008, để tăng cường năng lực tài chính, các DNBH đã thực hiện tăng vốn điều
lệ, đáp ứng mức vốn pháp định theo quy định mới, tạo điều kiện tốt hơn để mở
rộng hoạt động kinh doanh. Với năng lực tài chính vững mạnh, các DNBH Việt Nam
đã đáp ứng được tốt các nghĩa vụ của mình: tổng tài sản của các DNBH tại thời
điểm 31/12/2008 đạt 68.795 tỷ đồng (tăng 21,95% so với cùng kỳ năm 2007), vốn
dự phòng nghiệp vụ đạt 40.430 tỷ đồng (tăng 12% so với cùng kỳ). Đáng chú ý là
biên khả năng thanh toán của các DNBH đều cao hơn nhiều so với biên KNTT tối
thiểu theo quy định của pháp luật (doanh nghiệp thấp nhất cũng cao hơn hai lần,
doanh nghiệp mới hoạt động cao hơn hàng nghìn lần).
Điều thứ hai
cần được ghi nhận là thị trường bảo hiểm của Việt Nam đã từng bước đáp ứng được
sự phát triển và ổn định nền KT – XH: tổng số tiền bảo hiểm các doanh nghiệp
bảo hiểm đã giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong giai đoạn 2006-2008
là 18.788 tỷ đồng, trung bình mỗi năm chi trả 6.263 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các
DNBH đã tạo lập nguồn vốn lớn và dài hạn cho đầu tư phát triển KT - XH: tính từ
năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2009, tổng số tiền các DNBH đã huy động để đầu tư
trở lại cho nền kinh tế tăng từ 42.473 tỷ đồng lên 69.879 tỷ đồng, tăng trưởng bình
quân 31,7%/năm. Trong kế hoạch năm 2010, tổng doanh thu phí bảo
hiểm dự kiến đạt 27.764 tỷ đồng (tăng 14,68% so với năm 2009), trong đó doanh
thu phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 14.864 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 16,3%)
doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khoảng 12.900 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 12,9%
so với năm 2009). Chính nguồn vốn này đã góp phần vào việc giải
quyết công ăn, việc làm cho người lao động (tính đến 9 tháng
đầu năm 2009 số lượng lao động ngành bảo hiểm đạt hơn 150.000
lao động).
Thành tựu thứ ba mà Bộ Tài chính
ghi nhận đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua là thị trường
này đã thực hiện được định hướng đa dạng hóa sở hữu loại hình doanh nghiệp khi
thị trường này tiếp tục thu hút các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm nhằm
nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, năng lực quản trị điều hành
và cơ chế tự giám sát của doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm và
dịch vụ, thúc đẩy cạnh tranh. Cho đến nay, đã có 49 doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm (bao gồm 2 DNNN, 23
CTCP, 4 doanh nghiệp liên doanh và 20 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, sự góp mặt của 42 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước
ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin
của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam.
Trong hoạt động
đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp theo NQTW 3 và NQTW 9, Bộ Tài
chính đã đẩy mạnh quá trình sắp xếp cổ phần hoá DNNN: Bộ đã hoàn thành việc cổ
phần hoá Bảo Việt theo hướng thành lập Tập đoàn tài chính bảo hiểm Bảo
Việt, chuyển 2 Tổng công ty Bảo Việt Việt Nam và Bảo Việt Nhân thọ Việt Nam từ
hình thức DNNN sang mô hình công ty TNHH một thành viên do Tập đoàn Bảo Việt là
chủ sở hữu. Ngoài ra, Bộ cũng đã hoàn thành việc cổ phần hoá đối với Công ty
Bảo hiểm Dầu khí, chuyển doanh nghiệp này từ hình thức DNNN sang hoạt động theo
mô hình công ty cổ phần. Trong hoạt động phát triển và nâng cao chất lượng sản
phẩm bảo hiểm, Bộ Tài chính đã tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong việc
triển khai, thực hiện các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đảm bảo cho
doanh nghiệp tận dụng cơ hội kinh doanh để phát triển và phục vụ tốt hơn nhu
cầu khách hàng; cho phép các doanh nghiệp chủ động triển khai các sản phẩm bảo
hiểm phi nhân thọ, thực hiện nguyên tắc nhà nước chỉ ban hành quy tắc, điều khoản
và biểu phí các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và phê chuẩn các sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ.
Trong hoạt động phát triển hệ
thống trung gian bảo hiểm cũng đã có những bước tiến mới: nếu như từ năm 1993 -
2001 chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động trên thị trường
thì đến nay đã có 10 công ty môi giới bảo hiểm (trong đó có 4 công ty 100% vốn
nước ngoài, 6 công ty cổ phần) và trên 120 nghìn đại lý bảo hiểm hoạt động trong
lĩnh vực này. Các trung gian này đã ngày càng thể hiện tốt được vai trò của
mình trên thị trường bảo hiểm, đóng góp tích cực đến sự phát triển của thị trường:
trong năm 2008, tổng doanh thu phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm
là 1.856 tỷ đồng (tăng 32% so với năm 2007), trong đó riêng phí bảo hiểm gốc
thu xếp qua môi giới là 1.756 tỷ đồng (tăng 25% so với năm 2007). Các nghiệp vụ
bảo hiểm chính được thu xếp qua môi giới là bảo hiểm tài sản và thiệt hại
(chiếm 31%), bảo hiểm hàng không (22%), bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người
(15%).
Trong hoạt động nâng cao năng
lực kinh doanh của mình, các DNBH đã thực hiện việc nâng cao trình độ đội ngũ
cán bộ, trong đó tập trung vào việc đào tạo hệ thống chuyên gia quản lý rủi ro,
thẩm định bảo hiểm, chuyên viên định phí, trích lập dự phòng nghiệp vụ và
chuyên gia đầu tư tài chính; chủ động xây dựng các quy trình nghiệp vụ, quy
trình tài chính và quy trình quản lý nhằm chuẩn hóa và nâng cao hiệu quả hoạt
động của mình. Các DN cũng đã chủ động triển khai ứng dụng hệ thống thử nghiệm
cơ sở dữ liệu quản lý hợp đồng bảo hiểm, phần mềm kế toán: một số DN đã công bố
và đưa vào sử dụng Website, kịp thời quảng bá các loại hình dịch vụ, xây dựng
hệ thống bảo hiểm điện tử Internet kết nối qua mạng phục vụ rộng rãi mọi đối
tượng khách hàng.
Công tác hội nhập, hợp tác quốc
tế và mở cửa thị trường bảo hiểm cũng rất được ngành Tài chính chú trọng: bên
cạnh việc thực hiện rà soát, đối chiếu hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành
về KDBH với các quy định của WTO, từ đó cụ thể hoá trong Nghị định
45/2007/NĐ-CP và Nghị định 46/2007/NĐ-CP và trong các Thông tư hướng dẫn
155/2007/TT-BTC và Thông tư 156/2007/TT-BTC... thì từ năm 2007 đến 9 tháng đầu
năm 2009, Bộ đã tiến hành cấp phép cho 6 doanh nghiệp 100% vốn nuớc ngoài
(trong đó có 3 DN nhân thọ, 2 DN phi nhân thọ, 1 DN môi giới bảo hiểm). Tỷ lệ
và cơ cấu các loại hình doanh nghiệp thuộc các khu vực tương đối hài hoà, xử lý
tốt các cam kết song phương, đa phương của Việt Nam với các nước trong việc mở
cửa thị trường bảo hiểm. Điều đáng lưu ý là từ tháng 10/2007, Vụ Bảo hiểm đã
chính thức là thành viên của Hiệp hội quốc tế các nhà quản lý bảo hiểm (IAIS),
tham gia điều hành Cơ quan quản lý bảo hiểm các nước ASEAN. Vị thế mới này của
cơ quan QLNN về bảo hiểm của Việt Nam đã góp phần cải thiện hoạt động quản lý
giám sát theo các chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy phát triển lành mạnh và hiệu quả
thị trường bảo hiểm trong nước.
Ngoài ra, thị trường bảo hiểm
Việt Nam còn thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác với nước
ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm, như: Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm Hoa Kỳ
(NAIC), các cơ sở đào tạo nước ngoài (Học viện Bảo hiểm Malaysia, Trung tâm
APEC trực thuộc trường ĐHTH Monash (Úc), các DNBH có vốn ĐTNN và VPĐD của DNBH
nước ngoài tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, ADB, EU, ĐSQ Lúc xăm bua.. v.v...
Sông
Trà - Thời báo tài chính Việt Nam