Quan điểm của bạn về Bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới?
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Các doanh nghiệp hội viên
Dành cho quảng cáo
Thứ bảy, ngày 04/02/2012
Diễn đàn pháp luật
Bài 1: Thị trường Bảo hiểm Việt Nam, tốc độc tăng trưởng cao và phát triển ổn định
Trong những năm gần đây, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển ổn định, đóng góp đáng kể cho việc giảm thiểu các rủi ro trong SX - KD và đời sống xã hội; cải thiện môi trường đầu tư; giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước (NSNN), góp phần phát triển KT – XH.

Theo đánh giá về thị trường bảo hiểm của Cục Quản lý – Giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính), điều đầu tiên cần ghi nhận là Việt Nam đã phát triển được một thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, hiệu quả, duy trì được tốc độ tăng trưởng cao: tỷ trọng doanh thu ngành bảo hiểm so với GDP tăng từ 1,74%/GDP (năm 2006) lên 2,31%/GDP (năm 2008); thị trường phát triển an toàn, không xảy ra vụ việc vi phạm nghiêm trọng nào trong hoạt động kinh doanh, không có những tổn thất mang tính thảm hoạ hoặc rủi ro bất thường ảnh hưởng đến thị trường. Tổng doanh thu ngành bảo hiểm giai đoạn 2006-2008 đã đạt mức tăng trưởng bình quân 21,15%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP, trong đó doanh thu phí bảo hiểm tăng trưởng 15,44%, doanh thu hoạt động đầu tư tăng 57%. Tương ứng với số tuyệt đối, trong giai đoạn 2006-2008, tổng doanh thu ngành bảo hiểm tăng từ 18.376 tỷ đồng lên 27.668 tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm tăng từ 14.898 tỷ đồng lên 21.253 tỷ đồng và doanh thu đầu tư tăng từ 3.478 tỷ đồng lên 6.799 tỷ đồng.

Riêng năm 2008, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đạt 21.253 tỷ đồng (tăng 20% so với năm 2007) trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 10.950 tỷ đồng (tăng 33,3% so với năm 2007), doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 10.303 tỷ đồng (tăng 9,1% so với năm 2007). Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 52.409 tỷ đồng (tăng 38 % so với năm 2007) trong khi doanh thu từ hoạt động đầu tư đạt 6.799 tỷ đồng (tăng 2,6% so với năm 2007). Tổng số quyền lợi bảo hiểm chi trả là 9.146 tỷ đồng (tăng 43,5% so với năm 2007), trong đó số tiền bồi thường bảo hiểm gốc trong phi  nhân thọ là  4.537 tỷ đồng (tăng 49,6%), tổng số quyền lợi bảo hiểm nhân thọ chi trả là 4.609 tỷ đồng (tăng 38%).

 

Cũng trong năm 2008, để tăng cường năng lực tài chính, các DNBH đã thực hiện tăng vốn điều lệ, đáp ứng mức vốn pháp định theo quy định mới, tạo điều kiện tốt hơn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Với năng lực tài chính vững mạnh, các DNBH Việt Nam đã đáp ứng được tốt các nghĩa vụ của mình: tổng tài sản của các DNBH tại thời điểm 31/12/2008 đạt 68.795 tỷ đồng (tăng 21,95% so với cùng kỳ năm 2007), vốn dự phòng nghiệp vụ đạt 40.430 tỷ đồng (tăng 12% so với cùng kỳ). Đáng chú ý là biên khả năng thanh toán của các DNBH đều cao hơn nhiều so với biên KNTT tối thiểu theo quy định của pháp luật (doanh nghiệp thấp nhất cũng cao hơn hai lần, doanh nghiệp mới hoạt động cao hơn hàng nghìn lần).

 

Điều thứ hai cần được ghi nhận là thị trường bảo hiểm của Việt Nam đã từng bước đáp ứng được sự phát triển và ổn định nền KT – XH: tổng số tiền bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm đã giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong giai đoạn 2006-2008 là 18.788 tỷ đồng, trung bình mỗi năm chi trả 6.263 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các DNBH đã tạo lập nguồn vốn lớn và dài hạn cho đầu tư phát triển KT - XH: tính từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2009, tổng số tiền các DNBH đã huy động để đầu tư trở lại cho nền kinh tế tăng từ 42.473 tỷ đồng lên 69.879 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 31,7%/năm. Trong kế hoạch năm 2010, tổng doanh thu phí bảo hiểm dự kiến đạt 27.764 tỷ đồng (tăng 14,68% so với năm 2009), trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 14.864 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 16,3%) doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khoảng 12.900 tỷ đồng (tăng trưởng khoảng 12,9% so với năm 2009). Chính nguồn vốn này đã góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động (tính đến 9 tháng đầu năm 2009 số lượng lao động ngành bảo hiểm đạt hơn 150.000 lao động).

 

Thành tựu thứ ba mà Bộ Tài chính ghi nhận đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm qua là thị trường này đã thực hiện được định hướng đa dạng hóa sở hữu loại hình doanh nghiệp khi thị trường này tiếp tục thu hút các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, năng lực quản trị điều hành và cơ chế tự giám sát của doanh nghiệp, qua đó nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, thúc đẩy cạnh tranh. Cho đến nay, đã có 49 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm (bao gồm 2 DNNN, 23 CTCP, 4 doanh nghiệp liên doanh và 20 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, sự góp mặt của 42 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam.

 

Trong hoạt động đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp theo NQTW 3 và NQTW 9, Bộ Tài chính đã đẩy mạnh quá trình sắp xếp cổ phần hoá DNNN: Bộ đã hoàn thành việc cổ phần hoá Bảo Việt  theo hướng thành lập Tập đoàn tài chính bảo hiểm Bảo Việt, chuyển 2 Tổng công ty Bảo Việt Việt Nam và Bảo Việt Nhân thọ Việt Nam từ hình thức DNNN sang mô hình công ty TNHH một thành viên do Tập đoàn Bảo Việt là chủ sở hữu. Ngoài ra, Bộ cũng đã hoàn thành việc cổ phần hoá đối với Công ty Bảo hiểm Dầu khí, chuyển doanh nghiệp này từ hình thức DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Trong hoạt động phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm bảo hiểm, Bộ Tài chính đã tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong việc triển khai, thực hiện các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đảm bảo cho doanh nghiệp tận dụng cơ hội kinh doanh để phát triển và phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng; cho phép các doanh nghiệp chủ động triển khai các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, thực hiện nguyên tắc nhà nước chỉ ban hành quy tắc, điều khoản và biểu phí các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và phê chuẩn các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.

 

Trong hoạt động phát triển hệ thống trung gian bảo hiểm cũng đã có những bước tiến mới: nếu như từ năm 1993 - 2001 chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động trên thị trường thì đến nay đã có 10 công ty môi giới bảo hiểm (trong đó có 4 công ty 100% vốn nước ngoài, 6 công ty cổ phần) và trên 120 nghìn đại lý bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực này. Các trung gian này đã ngày càng thể hiện tốt được vai trò của mình trên thị trường bảo hiểm, đóng góp tích cực đến sự phát triển của thị trường: trong năm 2008, tổng doanh thu phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới bảo hiểm là 1.856 tỷ đồng (tăng 32% so với năm 2007), trong đó riêng phí bảo hiểm gốc thu xếp qua môi giới là 1.756 tỷ đồng (tăng 25% so với năm 2007). Các nghiệp vụ bảo hiểm chính được thu xếp qua môi giới là bảo hiểm tài sản và thiệt hại (chiếm 31%), bảo hiểm hàng không (22%), bảo hiểm sức khoẻ và tai nạn con người (15%). 

 

Trong hoạt động nâng cao năng lực kinh doanh của mình, các DNBH đã thực hiện việc nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, trong đó tập trung vào việc đào tạo hệ thống chuyên gia quản lý rủi ro, thẩm định bảo hiểm, chuyên viên định phí, trích lập dự phòng nghiệp vụ và chuyên gia đầu tư tài chính; chủ động xây dựng các quy trình nghiệp vụ, quy trình tài chính và quy trình quản lý nhằm chuẩn hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Các DN cũng đã chủ động triển khai ứng dụng hệ thống thử nghiệm cơ sở dữ liệu quản lý hợp đồng bảo hiểm, phần mềm kế toán: một số DN đã công bố và đưa vào sử dụng Website, kịp thời quảng bá các loại hình dịch vụ, xây dựng hệ thống bảo hiểm điện tử Internet kết nối qua mạng phục vụ rộng rãi mọi đối tượng khách hàng.

Công tác hội nhập, hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường bảo hiểm cũng rất được ngành Tài chính chú trọng: bên cạnh việc thực hiện rà soát, đối chiếu hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành về KDBH với các quy định của WTO, từ đó cụ thể hoá trong Nghị định 45/2007/NĐ-CP và Nghị định 46/2007/NĐ-CP và trong các Thông tư hướng dẫn 155/2007/TT-BTC và Thông tư 156/2007/TT-BTC... thì từ năm 2007 đến 9 tháng đầu năm 2009, Bộ đã tiến hành cấp phép cho 6 doanh nghiệp 100% vốn nuớc ngoài (trong đó có 3 DN nhân thọ, 2 DN phi nhân thọ, 1 DN môi giới bảo hiểm). Tỷ lệ và cơ cấu các loại hình doanh nghiệp thuộc các khu vực tương đối hài hoà, xử lý tốt các cam kết song phương, đa phương của Việt Nam với các nước trong việc mở cửa thị trường bảo hiểm. Điều đáng lưu ý là từ tháng 10/2007, Vụ Bảo hiểm đã chính thức là thành viên của Hiệp hội quốc tế các nhà quản lý bảo hiểm (IAIS), tham gia điều hành Cơ quan quản lý bảo hiểm các nước ASEAN. Vị thế mới này của cơ quan QLNN về bảo hiểm của Việt Nam đã góp phần cải thiện hoạt động quản lý giám sát theo các chuẩn mực quốc tế, thúc đẩy phát triển lành mạnh và hiệu quả thị trường bảo hiểm trong nước.

 

Ngoài ra, thị trường bảo hiểm Việt Nam còn thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực bảo hiểm, như: Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC), các cơ sở đào tạo nước ngoài (Học viện Bảo hiểm Malaysia, Trung tâm APEC trực thuộc trường ĐHTH Monash (Úc), các DNBH có vốn ĐTNN và VPĐD của DNBH nước ngoài tại Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, ADB, EU, ĐSQ Lúc xăm bua.. v.v...

                                        Sông Trà - Thời báo tài chính Việt Nam