Mặc dù nhiều nhà bình luận đang nói
nhiều về những dấu hiệu ban đầu của tình hình nền kinh tế có thể tiến triển từ
tình trạng xấu sang tình trạng tốt và một vài ngành nghề đang tìm kiếm cơ hội
tăng trưởng lợi nhuận; đối với ngành bảo hiểm, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
mới chỉ là giai đoạn bắt đầu. Điều này thể hiện ở việc bồi thường các đơn bảo
hiểm D&O. Đây là một trong những thông điệp quan trọng của Hội thảo Bảo
hiểm Trách nhiệm gần đây ở Kuala Lumpur được tổ
chức bởi Học viện Bảo hiểm Malaysia.
Hội thảo được tổ chức từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 5 năm 2009 ở khách sạn Istana
với sự có mặt của 100 các chuyên gia bảo hiểm.
Theo ông Patrick White, chủ trì hội
thảo – chuyên gia đánh giá rủi ro của Markel International, “Như dự đoán, nguồn
gốc của bồi thường là ở Mỹ. Thứ nhất là vì Mỹ là nơi khủng hoảng và những vấn
đề liên quan khởi nguồn nhưng cũng vì việc dễ dàng đưa ra kiện tụng so với
những chế độ khác. Ví dụ ở Ấn Độ, bạn không thể kiện tụng theo tập thể, vì thế
việc kiện tụng ở đó có thể thấy là rất lâu mới được tiến hành vì tất nhiên là
các cá nhân phải tự xoay xở một mình”. Ông White vừa được bổ nhiệm là trưởng bộ
phận Bảo hiểm D&O của Markel.
Mặc dù phần lớn các hoạt động kiện
tụng đều có thể khởi nguồn từ Mỹ, điều này không có nghĩa là các công ty ở khu
vực Châu Á sẽ thoát khỏi việc kiện tụng tập thể vì có rất nhiều công ty đã được
niêm yết ở Mỹ hoặc có ADRs. Gần đây, 3 hãng luật đặt tại Mỹ đã thụ lý hồ sơ
kiện công ty Satyam Computer Services, đại diện cho các cổ đông của hãng. Việc
này xảy ra sau khi chủ tịch của Satyam, ông Ramalinga Raju từ chức một thời
gian ngắn sau khi ông thông báo với công chúng rằng mình liên quan đến một vụ
bê bối về tài chính.
Ở Mỹ, theo báo cáo của Integro
Insurance Brokers vào tháng 3 năm 2009 cho thấy năm 2008 có 227 hồ sơ khởi
kiện, với một nửa liên quan đến các sự kiện về tín dụng. Tuy nhiên, đây hầu như
mới chỉ là phần nổi và Thời báo Tài chính (Financial Times) thông báo rằng bồi
thường từ khủng kinh tế có thể làm thiệt hại của các nhà bảo hiểm tới 6 triệu
đô từ các hợp đồng bảo vệ các công ty Mỹ và người quản lý.
Rõ ràng, một điểm mới của những vụ
kiện này có thể ảnh hưởng đến việc bồi thường là việc mở rộng định nghĩa “nhân
viên” ở một số quy định pháp lý và những vấn đề liên quan về kỹ năng và kiến
thức của nhân viên. Trường hợp ở Australia vào năm 2003 của ASIC vs.
Vines cho thấy rằng một nhân viên với một chức năng cụ thể, trong trường hợp
này là một Giám đốc tài chính được giao nhiệm vụ cùng một kỹ năng và trách
nhiệm như người khác trong cùng một vị trí. Đây là sự mở rộng yêu cầu kỹ năng
của nhân viên mà trong quá khứ chưa từng đề cập đến chức năng cụ thể. Ảnh hưởng
của quyết định này có thể nhìn thấy khi đánh giá trách nhiệm của nhân viên cũ
của ngân hàng mang những nhiệm vụ như đánh giá rủi ro hoặc nhân viên phục vụ
hoặc chuyên viên luật hoặc giám đốc điều hành, những người này sẽ cùng gánh vác
trách nhiệm vì công việc quá khứ liên quan đến pháp lý và tài chính.
Chấp nhận rằng việc bồi thường phát
sinh từ khủng hoảng cuối cùng sẽ được giải quyết, vậy bài học gì mang lại cho
các công ty bảo hiểm? Theo ông White, “ Tôi không nghĩ sẽ có nhiều lớp tráng
bạc. Tuy nhiên, một ảnh hưởng lớn là chúng ta sẽ có những cái nhìn nghiêm khắc
lạnh lùng đến việc đánh giá chuẩn mực của sự quản lý phối hợp của khách hàng
khi chúng ta soạn đơn bảo hiểm D&O. Đây không phải là phạm vi để chúng ta
có thể đối xử như một danh mục đầu tư và áp dụng công nghệ số. Chúng ta chỉ đơn
giản không có dữ liệu tổn thất để xử lý rủi ro bảo hiểm D&O trong cùng một
cách như đối với bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm xe cơ giới. Chúng ta phải nhìn
vào trường hợp của từng cá nhân và vì thế, chúng ta thực sự phải có những
chuyên gia đánh giá rủi ro cao cấp và có kinh nghiệm, người có thể đo được chất
lượng của việc quản lý phối hợp”
Báo cáo của Intergro đã lặp lại quan
điểm này và nói rằng cần thiết phải đặt một chuẩn mực truyền thống và phải đánh
giá cao những yếu tố đánh giá rủi ro cá nhân”
Rất khó để đánh giá chất lượng của
việc quản lý phối hợp trong một công ty vì cuối cùng cũng phải quy về chuẩn mực
đạo đức cá nhân và áp lực của môi trường họ đang hoạt động. Rất nhiều các ngành
khác đã thử đưa ra những quyết định cho việc quản lý phối hợp nhưng đã thất
bại. Ví dụ, rất nhiều các cơ quan đánh giá tín dụng đã cố gắng đưa khung quản
lý phối hợp vào phương pháp đánh giá của mình. Tuy nhiên, có rất ít sự minh
bạch trong phương pháp luận được sử dụng, vì thế tính hiệu quả không cao.
Thậm chí cái gọi là chuyên nghiệp
trong lĩnh vực này cũng thất bại, đôi khi còn mang lại những kết quả mang lại
nhiều lúng túng trăn trở. Ví dụ gần nhất là Satyam. Công ty đó được trao giải
thưởng International Peacock Award cho việc quản lý phối hợp tuyệt vời bởi Ủy
ban Quản lý phối hợp thế giới.
“Đối với các công ty bảo hiểm,”
Steven Dewhurst, đối tác của hãng luật Singapore ở Stephenson Harwood nói, “khó
khăn được nhân lên rất nhiều lần vì tính tự nhiên của đơn bảo hiểm D&O. Đây
là đơn bảo hiểm hỗn hợp vì thế giám đốc và nhân viên trong hiện tại, quá khứ và
tương lai đều được bảo hiểm. Bây giờ bạn có thể biết được những chuẩn mực đạo
đức của cá nhân từng giám đốc và nhân viên bằng cách tiếp cận gần họ hơn, nhưng
làm sao bạn có thể hiểu được đạo đức và năng lực của các giám đốc trong tương
lai – họ thậm chí có thể còn chưa được phát hiện ra, hãy để việc bổ nhiệm đó
cho hội đồng.”
Theo ông White, giải pháp duy nhất
là phải đầu tư vào khách hàng chính để tiếp cận gần hơn với họ và để hiểu biết
một cách thực sự khung quản lý phối hợp và những chuẩn mực mà họ đang thi hành.
Tuy nhiên, vấn đề bảo hiểm hỗn hợp có thể dẫn tới việc xem xét lại hợp đồng bảo
hiểm cũng như số tiền vượt quá của hợp đồng bảo hiểm đó. Ví dụ ở Đức, ông
Dewhurst nói, “Điều thường thấy là các giám đốc phải dành một năm tiền lương từ
túi mình ra để thanh toán cho những khoản khiếu nại này.”
Một khía cạnh khác mà các công ty
bảo hiểm sẽ phải thương lượng là tình trạng sa lầy những yêu cầu cho việc tạm
ứng tiền cho việc xúc tiến mục đích bảo vệ trước tòa. Trong khi ở hầu hết các
trường hợp liên quan đến trách nhiệm, có rất nhiều trường hợp đang trong tình
trạng nghi ngờ trục lợi bảo hiểm trong khủng hoảng. Trong những trường hợp trục
lợi bảo hiểm, giám đốc sẽ không được bảo hiểm bởi đơn bảo hiểm D&O. Tuy nhiên,
nếu ông ta thành công trong việc bảo vệ trường hợp của mình và được xem xét là
không vi phạm việc trục lợi thì ông ta sẽ lại được bảo hiểm. Vì thế, có nên tạm
ứng trước cho các chi phí bảo vệ hay không? Nếu được chứng minh là phạm pháp,
sẽ không có bảo hiểm, nhưng cũng không hy vọng được hoàn lại số tiền ứng trước.
Một câu hỏi hóc búa không dễ dàng trả lời.
Vấn đề trở nên phức tạp hơn trước
một vấn đề là một số các công ty có các giám đốc đang phải ra tòa sẽ gặp phải
tình trạng phá sản, vì thế nên chăng số tiền bảo hiểm, bao gồm cả tiền ứng
trước sẽ được trả cho giám đốc hoặc cho công ty và cho chủ nợ?
D&O vẫn
là sản phẩm mang lại lợi nhuận
Mặc dù bồi
thường của D&O ở mức tăng vọt sau khủng hoảng, tuy nhiên, ông White chỉ ra
rằng tình hình kinh doanh vẫn ở mức đem lại lợi nhuận. “Sau tất cả, tính cả
những công ty đã niêm yết và chưa niêm yết, số lượng bồi thường là nhỏ và không
thường xuyên. Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm đang trở nên kỹ càng hơn trong
việc lựa chọn đơn để cung cấp.”
Phương Dung
lược dịch
(Theo tạp
chí Insurance xuất bản hàng quý của Học viện Bảo hiểm Malaysia)