Để thống nhất cách hiểu và triển khai thực hiện các văn bản nêu trên, ngày 31/03/2009, Cục Quản lý bảo hiểm – Bộ Tài chính đã có công văn số 4711 gửi Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và các doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ hướng dẫn chi tiết thực hiện một số nội dung sau:
1. Về giấy phép lái xe, xe cơ giới tham gia giao thông: Đề nghị Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam xin ý kiến các cơ quan cơ quan chức năng có liên quan (Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng).
2. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC chỉ áp dụng với các trường hợp cấp mới giấy chứng nhận bảo hiểm kể từ khi Thông tư này có hiệu lực.
3. Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC chỉ có thời hạn là 01 năm (trừ một số trường hợp có thời hạn dưới 1 năm theo quy định tại điểm 2.2 Mục II của Thông tư số 126/2008/TT-BTC).
4. Doanh nghiệp bảo hiểm không được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khi khách hàng chưa đóng đủ phí bảo hiểm. Trường hợp Doanh nghiệp bảo hiểm đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm (đã cam kết hợp đồng) nhưng chưa thu đủ phí thì vẫn phải có trách nhiệm giải quyết bồi thường theo phạm vi bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm không được hạch toán vào chi phí khoản chi bồi thường này. Các cá nhân có liên quan trong việc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm nhưng chưa thu đủ phí bảo hiểm của khách hàng phải chịu trách nhiệm hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho khách hàng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm phải dùng lợi nhuận sau thuế để bù đắp.
5. Các loại xe cơ giới theo pháp luật hiện hành được phép tham gia giao thông thể hiện ở việc cấp đăng kí xe (biển kiểm soát) hoặc thuộc loại không phải cấp đăng kí xe thì các doanh nghiệp bảo hiểm bắt buộc phải bán bảo hiểm cho chủ xe. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được từ chối bảo hiểm đối với các loại xe cơ giới không thuộc diện nói trên.
6. Doanh nghiệp bảo hiểm được điều chỉnh phí bảo hiểm trong trường hợp xe cơ giới thay đổi mục đích sử dụng theo phân loại xe cơ giới qui định tại Phụ lục 5 của Thông tư số 126/2008/TT-BTC (từ xe kinh doanh sang xe không kinh doanh và ngược lại).
7. Biểu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới quy định tại Phụ lục 5 Thông tư số 126/2008/TT-BTC áp dụng đối với xe ô tô chở hàng (xe tải) “từ 8 tấn đến 15 tấn” được đính chính như sau: “trên 8 tấn đến 15 tấn”.
8. Xe buýt được phân loại là xe ô tô kinh doanh vận tải, nhưng phí bảo hiểm được tính bằng phí bảo hiểm của xe ô tô không kinh doanh vận tải có cùng số chỗ ngồi. Do đó, khi xảy ra tai nạn, Doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải xem xét bồi thường cho xe buýt như xe ô tô kinh doanh vận tải.
9. Phí bảo hiểm của xe đầu kéo rơ mooc đã bao gồm cả đầu kéo và rơ mooc.
10. Việc đóng đủ phí bảo hiểm phải được xác nhận bằng chứng từ kế toán của doanh nghiệp bảo hiểm (báo có của ngân hàng, biên lai thu tiền, hóa đơn thu tiền của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc các hình thức chứng từ khác theo quy định của pháp luật có liên quan).
11. Thông tư số 126/2008/TT-BTC chỉ quy định mức phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc của chủ xe cơ giới. Ngoài mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc, chủ xe cơ giới có thể tham gia thêm bảo hiểm tự nguyện nhưng mức tham gia thêm phải được thể hiện ở hợp đồng bảo hiểm khác (giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện).
12. Các chi phí Doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán cho cơ quan công an về sao chụp hồ sơ, biên bản tai nạn sẽ được hạch toán vào chi phí hợp lệ của Doanh nghiệp bảo hiểm khi có đủ các chứng từ kế toán theo qui định của pháp luật.
13. Doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho khách hàng trong thời gian 15 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ bồi thường thuộc trách nhiệm của chủ xe cơ giới và không quá 30 ngày trong trường hợp phải tiến hành xác minh hồ sơ.
14. Các lỗi cố ý vi phạm luật lệ giao thông (phóng nhanh, vượt ẩu, vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm) không thuộc các trường hợp loại trừ quy định tại Điều 13 Nghị định 103/2008/NĐ-CP.
15. Xe máy chuyên dùng được phép tham gia giao thông và đã tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới nếu gây tai nạn thì thuộc phạm vi bảo hiểm.
16. Rơ mooc không có đầu kéo mà gây tai nạn không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.
17. Trong trường hợp vụ tai nạn có quyết định của Toà án thì mức bồi thường được căn cứ vào quyết định của Toà án nhưng không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm được hiểu là:
- Trường hợp toà án quyết định chủ xe gây tai nạn phải bồi thường cho nạn nhân với mức thấp hơn mức trách nhiệm tối đa qui định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC thì Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có trách nhiệm xem xét bồi thường cho chủ xe theo mức quyết định của tòa án (với thiệt hại về người thì chỉ xem xét các thiệt hại qui định tại Phụ lục 6 của Thông tư số 126/2008/TT-BTC);
- Trường hợp tòa án quyết định chủ xe gây tai nạn phải bồi thường cho nạn nhân với mức cao hơn mức trách nhiệm tối đa qui định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC thì Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có trách nhiệm xem xét bồi thường cho chủ xe theo mức tối đa quy định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC.
18. Đối với các thiệt hại về người trong vụ tai nạn, trường hợp chủ xe và người bị thiệt hại thỏa thuận với mức bồi thường thấp hơn mức bồi thường theo quy định của phụ lục 6 của Thông tư số 126/2008/TT-BTC thì Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại theo thỏa thuận giữa chủ xe và người bị thiệt hại. Tuy nhiên, Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho người bị thiệt hại và chủ xe cơ giới biết quyền lợi của mình về số tiền bồi thường thiệt hại về người theo qui định tại Phụ lục 6 của Thông tư số 126/2008/TT-BTC và có trách nhiệm xem xét thanh toán phần chênh lệch khi có yêu cầu.
19. Khi xảy ra tai nạn, Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp với chủ xe cơ giới, người bị thiệt hại, cơ quan công an và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác để thu thập các tài liệu có liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lập hồ sơ bồi thường (điểm 9 Mục II của Thông tư số 126/2008/TT-BTC). Như vậy, trong trường hợp cơ quan công an không đứng ra giải quyết vụ tại nạn thì Doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành thu thập các bằng chứng, tài liệu khác của tổ chức, cá nhân có liên quan để tiến hành giám định và xem xét bồi thường, tổ chức giám định tai nạn theo đúng quy định, thủ tục, quy trình giám định của Doanh nghiệp bảo hiểm đã ban hành. Doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về kết quả giám định của mình.
20. Tài liệu để chứng minh thiệt hại về tài sản trong hồ sơ bồi thường được qui định tại điểm 9.3 Mục II của Thông tư số 126/2008/TT-BTC.
21. Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép áp dụng chế tài đối với khách hàng như trong trường hợp khách hàng chậm thông báo tổn thất hoặc xe chở quá tải.
22. Trước khi cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm thông báo cho chủ xe biết việc chủ xe cơ giới không được đồng thời tham gia từ hai hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự trở lên cho cùng một xe cơ giới. Nếu chủ xe cơ giới chưa tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự thì làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận bảo hiểm theo quy định.
23. Các Doanh nghiệp bảo hiểm phải có nghĩa vụ thông báo cho khách hàng biết về việc hết thời hạn bảo hiểm trong vòng 15 ngày trước khi hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực.
24. Các Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, công tác thống kê số liệu, báo cáo theo đúng quy định tại Thông tư số 126/2008/TT-BTC. Trước mắt, phải xây dựng cơ sở dữ liệu tối thiểu có đủ các nội dung ghi trong Giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận bảo hiểm và các nội dung khác (nếu có). Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày Thông tư số 126/2008/TT-BTC có hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng, cung cấp cơ sở dữ liệu đáp ứng các quy định tại điểm 14.13 Phần II Thông tư số 126/2008/TT-BTC.
25. Các Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm lập và gửi Bộ Tài chính các báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ theo quý, năm được quy định tại Phụ lục 7 và Phụ lục 8 ban hành kèm theo Thông tư số 126/2008/TT-BTC. Thời gian gửi báo cáo như sau:
a) Báo cáo quý: Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc quý.
b) Báo cáo năm: Chậm nhất là 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm.
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm VN